Người của pháp nhân là gì? Quy định theo Bộ luật Dân sự 2026

Biên soạn:

· Cập nhật:

Người của pháp nhân là gì? Quy định theo Bộ luật Dân sự 2026

Người của pháp nhân là cụm từ trong Điều 597 Bộ luật Dân sự 2015, dùng để chỉ cá nhân gắn với pháp nhân và thực hiện nhiệm vụ do pháp nhân giao, như người đại diện, thành viên, người lao động. Luật không định nghĩa riêng cụm từ này. Điều quan trọng là: khi họ gây thiệt hại lúc làm nhiệm vụ, pháp nhân phải bồi thường.

Tóm tắt nhanh

  • “Người của pháp nhân” không có định nghĩa trực tiếp trong luật; được hiểu là cá nhân thuộc pháp nhân và làm việc theo nhiệm vụ pháp nhân giao.
  • Gồm người đại diện, thành viên, người lao động (kể cả hợp đồng ngắn hạn, thử việc) và người được pháp nhân ủy quyền làm một việc cụ thể.
  • Pháp nhân phải bồi thường thiệt hại do người của mình gây ra trong khi thực hiện nhiệm vụ được giao.
  • Sau khi bồi thường, pháp nhân có quyền yêu cầu người có lỗi hoàn trả một khoản tiền theo quy định của pháp luật.

Người của pháp nhân là gì?

Bộ luật Dân sự 2015 dùng cụm từ này tại Điều 597, quy định về bồi thường thiệt hại do người của pháp nhân gây ra. Nội dung điều luật: pháp nhân phải bồi thường thiệt hại do người của mình gây ra trong khi thực hiện nhiệm vụ được pháp nhân giao. Nếu pháp nhân đã bồi thường thì có quyền yêu cầu người có lỗi hoàn trả một khoản tiền theo quy định của pháp luật.

Bộ luật không giải thích cụm từ “người của pháp nhân” bằng một khoản riêng. Theo cách hiểu phổ biến trong thực tiễn và sách báo pháp lý, đó là bất kỳ cá nhân nào thuộc pháp nhân, được pháp nhân giao nhiệm vụ và hành động vì pháp nhân. Không phụ thuộc người đó giữ chức vụ cao hay thấp.

Pháp nhân là gì và vì sao phải hoạt động qua con người?

Theo Điều 74 Bộ luật Dân sự 2015, một tổ chức được công nhận là pháp nhân khi có đủ 4 điều kiện:

  • Được thành lập theo Bộ luật Dân sự hoặc luật khác có liên quan.
  • Có cơ cấu tổ chức theo quy định tại Điều 83.
  • Có tài sản độc lập với cá nhân, pháp nhân khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản của mình.
  • Nhân danh mình tham gia quan hệ pháp luật một cách độc lập.

Doanh nghiệp, ngân hàng, trường học công lập, bệnh viện công lập, hội, quỹ… có thể là pháp nhân nếu đáp ứng điều kiện trên. Tuy nhiên, pháp nhân là tổ chức nên không tự “hành động” được. Mọi giao dịch, mọi công việc đều phải do con người thực hiện. Vì vậy luật coi hành vi của người được giao nhiệm vụ là hành vi của chính pháp nhân, và pháp nhân gánh trách nhiệm tương ứng.

Ai được coi là người của pháp nhân?

Do luật không liệt kê, bạn nên xác định dựa vào mối quan hệ giữa cá nhân và pháp nhân, cùng việc người đó có đang làm nhiệm vụ do pháp nhân giao hay không. Bảng dưới đây giúp hình dung các nhóm thường gặp.

Nhóm Ví dụ Có là người của pháp nhân?
Người đại diện theo pháp luật Giám đốc, tổng giám đốc, chủ tịch hội đồng quản trị (tùy điều lệ) Có
Thành viên của pháp nhân Thành viên góp vốn, hội viên, đoàn viên tham gia công việc của tổ chức Có, khi làm nhiệm vụ được giao
Người lao động Nhân viên chính thức, hợp đồng ngắn hạn, người đang thử việc Có
Người đại diện theo ủy quyền Cá nhân được ủy quyền ký hợp đồng, thực hiện một công việc nhân danh pháp nhân Có, trong phạm vi ủy quyền
Đối tác độc lập Doanh nghiệp, cá nhân làm dịch vụ bên ngoài theo hợp đồng riêng, tự chịu trách nhiệm Thường không

Lưu ý: Việc có phải “người của pháp nhân” hay không do Tòa án đánh giá trong từng vụ việc, dựa trên hợp đồng, quyết định giao việc, chứng cứ về sự quản lý, điều hành của pháp nhân. Một người không có hợp đồng lao động bằng văn bản vẫn có thể bị xem xét nếu thực tế làm việc và chịu sự phân công của pháp nhân.

Phân biệt “người của pháp nhân”, người đại diện và người làm công

Người của pháp nhân và người đại diện của pháp nhân

Người đại diện (theo pháp luật hoặc theo ủy quyền) là người nhân danh pháp nhân xác lập, thực hiện giao dịch dân sự. Họ chỉ là một nhóm trong khái niệm rộng hơn “người của pháp nhân”. Nhân viên bình thường không đại diện pháp nhân ký hợp đồng, nhưng vẫn là người của pháp nhân khi thực hiện công việc được giao.

Người của pháp nhân và người làm công (Điều 600)

Bộ luật Dân sự có điều luật riêng về bồi thường thiệt hại do người làm công, người học nghề gây ra, áp dụng cho cả cá nhân và pháp nhân là bên sử dụng. Về bản chất, hai điều luật này vận hành tương tự: bên sử dụng bồi thường trước cho người bị thiệt hại, rồi xem xét việc hoàn trả. Điều 597 áp dụng khi bên chịu trách nhiệm là pháp nhân.

Người của pháp nhân và người lao động theo Bộ luật Lao động

Bạn cần tách hai quan hệ. Thiệt hại gây cho bên thứ ba (khách hàng, người đi đường) xử lý theo Bộ luật Dân sự. Thiệt hại gây cho chính người sử dụng lao động (làm hỏng thiết bị, mất tài sản của công ty) xử lý theo quy định về bồi thường, trách nhiệm vật chất trong Bộ luật Lao động 2019 và nội quy lao động. Nếu bạn đang tìm hiểu về điều kiện tham gia quan hệ lao động, xem thêm độ tuổi lao động tối thiểu theo quy định mới nhất.

Khi nào pháp nhân phải bồi thường thiệt hại do người của mình gây ra?

Pháp nhân chỉ phải bồi thường theo Điều 597 khi hội đủ các điều kiện của trách nhiệm bồi thường ngoài hợp đồng, cộng với điều kiện riêng về “nhiệm vụ được giao”:

  1. Điều kiện 1 – Có thiệt hại thực tế: thiệt hại về tài sản, sức khỏe, tính mạng, danh dự, nhân phẩm… của người bị hại.
  2. Điều kiện 2 – Có hành vi trái pháp luật: hành vi của người của pháp nhân gây ra thiệt hại.
  3. Điều kiện 3 – Có quan hệ nhân quả: thiệt hại phát sinh trực tiếp từ hành vi đó.
  4. Điều kiện 4 – Đang thực hiện nhiệm vụ được pháp nhân giao: hành vi xảy ra trong khi làm công việc, nhiệm vụ do pháp nhân phân công.

Điểm đáng chú ý: theo cách giải thích phổ biến, khi người của pháp nhân gây thiệt hại trong lúc thực hiện nhiệm vụ thì dù họ có lỗi hay không có lỗi, pháp nhân vẫn phải bồi thường cho người bị thiệt hại. Cách quy định này bảo đảm người bị hại được bồi thường kịp thời, vì cá nhân gây thiệt hại thường khó có khả năng bồi thường ngay.

Mức bồi thường, các khoản thiệt hại được tính được xác định theo các điều luật chung về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong Bộ luật Dân sự 2015, bắt đầu từ Điều 584.

Cảnh báo: Nếu người đó gây thiệt hại ngoài phạm vi nhiệm vụ được giao (ví dụ dùng việc riêng, vì mục đích cá nhân), việc áp dụng Điều 597 có thể không đặt ra và người đó có thể phải tự chịu trách nhiệm. Trường hợp có dấu hiệu tội phạm, cá nhân vẫn có thể bị xử lý hình sự theo Bộ luật Hình sự; riêng pháp nhân thương mại chỉ chịu trách nhiệm hình sự với những tội mà luật quy định.

Pháp nhân có được đòi lại tiền từ người gây thiệt hại không?

Có. Điều 597 cho phép pháp nhân, sau khi đã bồi thường, yêu cầu người có lỗi trong việc gây thiệt hại hoàn trả một khoản tiền “theo quy định của pháp luật”. Cụm này có nghĩa pháp nhân không được tự ý đòi toàn bộ hoặc đòi vô hạn. Với người lao động, mức và cách thức hoàn trả còn phải tuân theo quy định của Bộ luật Lao động, nội quy lao động và các thủ tục xử lý trách nhiệm vật chất. Với thành viên hoặc người đại diện, có thể căn cứ thêm điều lệ, quy chế nội bộ.

Ví dụ, khi hợp đồng, hóa đơn hay văn bản do nhân viên ký và đóng dấu sai thẩm quyền gây thiệt hại, doanh nghiệp thường phải làm rõ ai có lỗi, phạm vi ủy quyền ra sao. Bạn có thể tham khảo thêm về cách đóng dấu giáp lai và mẫu hóa đơn bán lẻ hợp lệ để hiểu cách pháp nhân hoàn thiện chứng từ khi giao dịch.

Ví dụ tình huống thực tế

Tình huống 1: Nhân viên giao hàng gây tai nạn

Anh A là nhân viên giao hàng của một công ty. Trong giờ làm, anh lái xe giao đơn và va chạm làm hỏng xe của chị B. Anh A là người của pháp nhân và đang thực hiện nhiệm vụ được giao, nên chị B có quyền yêu cầu công ty bồi thường. Sau đó, công ty xem xét yêu cầu anh A hoàn trả một phần theo pháp luật lao động và nội quy.

Tình huống 2: Nhân viên dùng xe công ty đi việc riêng

Cùng anh A, nhưng buổi tối anh tự lấy xe công ty đi chơi và gây tai nạn. Việc này không phải nhiệm vụ do công ty giao. Việc công ty có phải bồi thường hay không cần đánh giá lại, thường anh A phải chịu trách nhiệm chính, trừ khi công ty có lỗi trong việc quản lý phương tiện.

Tình huống 3: Giáo viên trường công lập

Một giáo viên đang tổ chức hoạt động ngoại khóa theo phân công của nhà trường, học sinh bị thương do sơ suất trong tổ chức. Giáo viên là người của pháp nhân (nhà trường là pháp nhân), nên trách nhiệm bồi thường trước tiên thuộc về pháp nhân. Về phần trách nhiệm cá nhân của giáo viên, bạn có thể tham khảo thêm cách viết bản kiểm điểm khi cần xem xét kỷ luật nội bộ.

Câu hỏi thường gặp

Người của pháp nhân là gì?

Là cách gọi trong Điều 597 Bộ luật Dân sự 2015 để chỉ cá nhân thuộc pháp nhân và thực hiện nhiệm vụ do pháp nhân giao. Luật không định nghĩa chi tiết, nhưng thực tiễn hiểu đó gồm người đại diện, thành viên, người lao động và người được ủy quyền.

Người lao động thử việc có phải người của pháp nhân không?

Có thể có. Cách hiểu phổ biến cho rằng người của pháp nhân gồm cả người được tuyển dụng theo quan hệ hợp đồng dài hạn, ngắn hạn hay đang thử việc, miễn là họ thực hiện nhiệm vụ do pháp nhân giao.

Ai bồi thường khi nhân viên công ty gây thiệt hại cho người khác?

Nếu nhân viên gây thiệt hại trong khi thực hiện nhiệm vụ công ty giao, công ty (là pháp nhân) phải bồi thường cho người bị hại. Sau đó công ty có quyền yêu cầu nhân viên có lỗi hoàn trả một khoản tiền theo quy định của pháp luật.

Pháp nhân có phải bồi thường nếu người của mình không có lỗi?

Theo cách giải thích phổ biến về Điều 597, pháp nhân vẫn phải bồi thường cho người bị thiệt hại khi người của pháp nhân gây thiệt hại lúc làm nhiệm vụ, kể cả trường hợp người đó không có lỗi. Việc hoàn trả chỉ đặt ra với người có lỗi.

Người đại diện theo pháp luật có phải là người của pháp nhân không?

Có. Người đại diện theo pháp luật như giám đốc hoặc chủ tịch hội đồng quản trị là người của pháp nhân, và hành vi của họ khi nhân danh pháp nhân được coi là hành vi của pháp nhân. Tuy nhiên, khái niệm “người của pháp nhân” rộng hơn, không chỉ có người đại diện.

Tóm lại, “người của pháp nhân” là cá nhân gắn với pháp nhân và hành động theo nhiệm vụ pháp nhân giao. Khi họ gây thiệt hại trong phạm vi nhiệm vụ đó, pháp nhân là bên phải bồi thường trước cho người bị hại, rồi mới xem xét quyền yêu cầu người có lỗi hoàn trả. Nếu muốn hiểu rộng hơn về nền tảng tổ chức và quyền lực công, bạn có thể đọc thêm bản chất của nhà nước là gì.

Lưu ý: Nội dung bài viết mang tính chất tham khảo, được biên soạn theo quy định pháp luật tại thời điểm cập nhật. Với vụ việc cụ thể, bạn nên liên hệ cơ quan có thẩm quyền hoặc luật sư để được hướng dẫn chính xác. Xem miễn trừ trách nhiệm.

Ban biên tập Luật Sư X

Có thể bạn quan tâm

Xem tất cả →