Thông thường là không. Khi doanh nghiệp bán hàng giá ưu đãi chỉ cho người lao động của mình theo chính sách phúc lợi nội bộ, không nhằm kích thích người tiêu dùng mua hàng, thì đó chưa phải là “khuyến mại” theo Luật Thương mại. Ngoài ra, từ 01/12/2024, ngay cả khuyến mại bằng hình thức giảm giá cũng không còn phải thông báo với Sở Công Thương.
Tóm tắt nhanh
- Giảm giá nội bộ cho nhân viên, nằm trong quy chế phúc lợi, không hướng ra thị trường: thường không thuộc phạm vi khuyến mại, nên không có thủ tục thông báo.
- Nếu ưu đãi mở rộng cho người thân, bạn bè, khách hàng bên ngoài hoặc dùng để đẩy doanh số bán ra: có thể bị xem là khuyến mại.
- Khuyến mại bằng hình thức giảm giá hiện không thuộc diện thông báo với Sở Công Thương (Nghị định 128/2024/NĐ-CP, hiệu lực từ 01/12/2024), nhưng vẫn phải tuân thủ hạn mức giảm giá và công khai thông tin.
- Chương trình mang tính may rủi (bốc thăm, quay số…) vẫn phải đăng ký, không áp dụng cho việc giảm giá nhân viên thông thường.
Giảm giá cho nhân viên có phải là khuyến mại không?
Theo cách hiểu của Luật Thương mại 2005, khuyến mại là hoạt động thương mại của thương nhân nhằm xúc tiến việc mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ bằng cách dành cho khách hàng những lợi ích nhất định. Hai yếu tố then chốt là: (1) mục đích xúc tiến bán hàng, cung ứng dịch vụ; (2) đối tượng hưởng lợi là khách hàng.

Nhân viên mua sản phẩm của chính công ty với giá ưu đãi theo quy chế lao động thì mục đích chính là chăm lo đời sống, giữ chân người lao động, không phải kéo thêm khách mua hàng. Vì vậy, về nguyên tắc, đây là chế độ phúc lợi chứ không phải chương trình khuyến mại.
Quan điểm này phù hợp với các hướng dẫn công khai của cơ quan quản lý. Trong một phản hồi đăng trên cổng thông tin của Bộ Công Thương, chế độ ưu đãi dành cho người lao động trong hệ thống của doanh nghiệp, không nhằm xúc tiến mua bán hàng hóa, dịch vụ, được xác định không phải hoạt động khuyến mại theo Luật Thương mại. Với trường hợp cấp mã giảm giá định kỳ cho nhân viên, báo Chính phủ cũng đăng tải hướng giải đáp rằng nếu hoạt động chỉ là một phần chính sách phúc lợi nội bộ, không nhằm mục đích sinh lợi, thì có thể được xem xét là không thuộc phạm vi hoạt động thương mại và do đó không chịu điều chỉnh của quy định về khuyến mại.
Lưu ý: Đây là cách xác định theo bản chất của hoạt động, không có danh sách “miễn” riêng cho nhân viên trong văn bản. Việc kết luận cuối cùng thuộc cơ quan quản lý nhà nước (Sở Công Thương cấp tỉnh) khi xem xét từng tình huống cụ thể, vì vậy chính sách càng rõ ràng, khép kín trong nội bộ thì càng ít rủi ro.
Khi nào giảm giá nhân viên không phải khuyến mại?
Bạn có thể yên tâm hơn khi chính sách đáp ứng đồng thời các dấu hiệu sau:
- Chỉ áp dụng cho người đang làm việc theo hợp đồng lao động với doanh nghiệp (có thể gồm cả người đã nghỉ hưu, nếu quy chế nội bộ quy định rõ);
- Được quy định trong nội quy, quy chế phúc lợi hoặc thỏa ước lao động tập thể, áp dụng ổn định, không gắn với một đợt “sale” nhằm tăng doanh số;
- Không quảng cáo, truyền thông ra bên ngoài để thu hút người mua;
- Mỗi nhân viên mua cho nhu cầu cá nhân, gia đình theo định mức hợp lý, không bán lại kiếm lời.
Ví dụ: Một công ty sản xuất đồ gia dụng ban hành quy chế cho phép mỗi nhân viên mua sản phẩm công ty với giá thấp hơn giá niêm yết 20%, mỗi tháng tối đa một số lượng nhất định. Chính sách chỉ nội bộ, không đăng lên website hay mạng xã hội. Trường hợp này mang tính phúc lợi, doanh nghiệp không phải làm thủ tục khuyến mại nào với Sở Công Thương.
Khi nào bị coi là khuyến mại?
Ranh giới có thể bị xem xét lại nếu chính sách “nội bộ” thực chất tác động ra thị trường. Một số dấu hiệu cần cân nhắc:
- Mở rộng đối tượng: mã giảm giá cho nhân viên được phép chuyển cho người thân, bạn bè hoặc đăng công khai để người ngoài dùng;
- Gắn với doanh số: thưởng quà, phiếu mua hàng cho nhân viên nhằm khuyến khích họ bán được nhiều hàng. Chính Bộ Công Thương từng hướng dẫn rằng việc tặng quà trong một số tình huống như vậy là khuyến mại dưới hình thức tặng hàng hóa, cung ứng dịch vụ không thu tiền theo Luật Thương mại và Nghị định 81/2018/NĐ-CP;
- Chương trình “nhân viên – khách hàng”: nhân viên được giảm giá và đồng thời được giao chỉ tiêu giới thiệu khách mua với ưu đãi chung.
Khi rơi vào các tình huống trên, hãy xem chương trình là khuyến mại và áp dụng đầy đủ quy định ở các phần dưới đây.
Khuyến mại giảm giá hiện nay có phải thông báo Sở Công Thương?
Đây là điểm nhiều người còn hiểu theo quy định cũ. Trước đây, khuyến mại bằng hình thức giảm giá (Điều 10 Nghị định 81/2018/NĐ-CP) thuộc nhóm phải thông báo, trừ khi tổng giá trị quà tặng, giải thưởng dưới 100 triệu đồng hoặc chỉ bán qua sàn thương mại điện tử.
Hiện nay, Nghị định 128/2024/NĐ-CP ngày 10/10/2024 sửa đổi Nghị định 81/2018/NĐ-CP và có hiệu lực từ 01/12/2024. Theo đó, nghĩa vụ thông báo đã được thu hẹp mạnh: chỉ còn hai trường hợp thương nhân phải làm thủ tục thông báo. Cụ thể là bán hàng, cung ứng dịch vụ kèm phiếu dự thi để chọn người trao thưởng, và chương trình khách hàng thường xuyên, kèm điều kiện về giá trị (từ 100 triệu đồng trở lên) và kênh bán. Các hình thức phổ biến như tặng quà, giảm giá, hàng mẫu, phiếu mua hàng… không còn phải thông báo với Sở Công Thương.
| Tình huống | Có phải thông báo/đăng ký? |
|---|---|
| Giảm giá riêng cho nhân viên theo quy chế phúc lợi nội bộ | Thường không thuộc phạm vi khuyến mại, không có thủ tục |
| Khuyến mại giảm giá cho khách hàng (kể cả khi có đối tượng nhân viên) | Không phải thông báo từ 01/12/2024 |
| Chương trình khách hàng thường xuyên, tổng giá trị từ 100 triệu đồng | Vẫn phải thông báo (trừ trường hợp chỉ bán qua sàn/website khuyến mại trực tuyến) |
| Chương trình khuyến mại mang tính may rủi | Phải đăng ký và được xác nhận trước khi thực hiện |
Lưu ý: Nghị định 239/2026/NĐ-CP ký ngày 26/06/2026 tiếp tục sửa Nghị định 81/2018/NĐ-CP. Theo các thông tin công bố, nghị định này làm rõ việc xác định trúng thưởng trong chương trình khuyến mại may rủi phải có khách hàng chứng kiến trực tiếp, và có hiệu lực kể từ ngày ký ban hành (26/6/2026). Nội dung này không làm thay đổi kết luận về việc giảm giá thông thường, nhưng nếu bạn tổ chức quay số, bốc thăm trúng thưởng thì cần đọc kỹ văn bản.
Hạn mức giảm giá và nghĩa vụ công khai thông tin
Không phải thông báo không có nghĩa là muốn giảm bao nhiêu cũng được nếu chương trình bị xác định là khuyến mại. Doanh nghiệp vẫn cần lưu ý:
- Hạn mức khuyến mại: Từ năm 2025, Bộ Công Thương quy định hạn mức giá trị hàng hóa dùng để khuyến mại và mức giảm giá tối đa tại Thông tư 39/2025/TT-BCT ngày 22/06/2025. Thông thường giá trị vật chất dùng để khuyến mại cho một đơn vị hàng hóa, dịch vụ không được vượt quá 50% giá bán ngay trước thời gian khuyến mại; chương trình khuyến mại tập trung và một số trường hợp đặc thù (hàng bình ổn giá, thực phẩm tươi sống, doanh nghiệp giải thể, phá sản, đổi địa điểm kinh doanh…) có quy định riêng.
- Cấm bán phá giá: không được lợi dụng khuyến mại giảm giá để bán phá giá hàng hóa, dịch vụ; hàng hóa thuộc diện Nhà nước quy định khung giá hoặc giá tối thiểu cũng có giới hạn riêng.
- Công khai thông tin: tên chương trình, thời gian, địa bàn, hàng hóa được giảm giá và mức giảm… phải được công khai cho khách hàng.
Với chính sách phúc lợi cho nhân viên không phải khuyến mại, các hạn mức trên không bắt buộc áp dụng. Tuy vậy, doanh nghiệp vẫn nên định mức giá ưu đãi hợp lý để dễ giải trình với cơ quan thuế và đối tác. Khi xuất hóa đơn cho nhân viên, bạn cần ghi đúng giá thực thu; tham khảo thêm mẫu hóa đơn bán lẻ hợp lệ. Còn nếu bạn là người lao động quan tâm đến nghĩa vụ thuế thu nhập cá nhân của mình, có thể xem mức giảm trừ gia cảnh mới nhất.
Không thông báo khi bắt buộc thì bị phạt thế nào?
Hành vi vi phạm trong hoạt động khuyến mại bị xử phạt theo Nghị định 98/2020/NĐ-CP (đã sửa đổi bởi Nghị định 17/2022/NĐ-CP). Theo tổng hợp từ các nguồn pháp luật, hành vi không thông báo hoặc không đăng ký với cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền trước khi thực hiện khuyến mại, hoặc thông báo, đăng ký không đúng quy định bị phạt tiền từ 10 đến 20 triệu đồng đối với tổ chức; cá nhân bị phạt bằng một nửa mức này. Không công khai hoặc công khai thiếu thông tin khuyến mại bị phạt 5–10 triệu đồng đối với tổ chức, cá nhân bằng 1/2 mức phạt của tổ chức.
Vì giảm giá thông thường đã không còn trong danh mục phải thông báo, doanh nghiệp chỉ bị phạt vì lỗi này khi làm chương trình thuộc nhóm còn bắt buộc (khách hàng thường xuyên, phiếu dự thi, may rủi…) mà không làm thủ tục. Mức phạt cụ thể phụ thuộc vào văn bản xử phạt hiện hành tại thời điểm kiểm tra.
Cảnh báo: Không dùng danh nghĩa “ưu đãi nhân viên” để che chắn cho một chương trình thực chất bán hàng ra thị trường, chẳng hạn mã giảm giá lưu hành công khai. Cơ quan quản lý xét theo bản chất hoạt động, không xét theo tên gọi.
Cách xây dựng chính sách giá nội bộ cho nhân viên

- Bước 1: Xác định rõ mục đích là phúc lợi, chăm lo người lao động; ghi mục đích này vào văn bản.
- Bước 2: Quy định đối tượng áp dụng (nhân viên đang có hợp đồng lao động), điều kiện, mức giảm, định mức mua mỗi tháng/quý.
- Bước 3: Cấm chuyển nhượng, bán lại hàng ưu đãi và cấm quảng bá chính sách ra bên ngoài.
- Bước 4: Ban hành bằng quy chế, quyết định của người có thẩm quyền; văn bản nhiều trang nên ký, đóng dấu đúng quy cách (xem cách đóng dấu giáp lai).
- Bước 5: Lưu hồ sơ bán hàng, hóa đơn và danh sách người mua để đối chiếu khi cần; trao đổi với bộ phận kế toán về cách hạch toán, nghĩa vụ thuế liên quan.
- Bước 6: Nếu muốn mở rộng ưu đãi ra người thân hoặc khách hàng, chuyển sang quản lý như một chương trình khuyến mại thực sự và rà soát hạn mức, công khai thông tin.
Câu hỏi thường gặp
Bán hàng giảm giá cho nhân viên có phải thông báo khuyến mại không?
Thông thường không. Giảm giá chỉ dành cho người lao động theo chính sách phúc lợi nội bộ không nhằm xúc tiến bán hàng ra thị trường nên không phải khuyến mại. Dù chương trình bị xác định là khuyến mại giảm giá, từ 01/12/2024 cũng không còn phải thông báo với Sở Công Thương.
Giảm giá cho nhân viên có cần đăng ký với Sở Công Thương không?
Không. Đăng ký chỉ áp dụng với chương trình khuyến mại mang tính may rủi (bốc thăm, quay số trúng thưởng…) và các hình thức khuyến mại khác theo quy định. Giảm giá nhân viên thông thường không thuộc nhóm này.
Cho nhân viên mã giảm giá để tặng người thân thì sao?
Khi ưu đãi vượt ra ngoài nhân viên, đối tượng hưởng lợi trở thành người tiêu dùng bên ngoài, nên có nguy cơ bị xem là khuyến mại. Bạn cần áp dụng hạn mức giảm giá và công khai thông tin như một chương trình khuyến mại.
Giảm giá nhân viên tối đa được bao nhiêu phần trăm?
Hạn mức giảm giá tối đa trong Thông tư 39/2025/TT-BCT áp dụng với hoạt động khuyến mại. Chính sách phúc lợi nội bộ không phải khuyến mại nên không bị ràng buộc trực tiếp, nhưng nên định mức hợp lý, tránh bán dưới giá một cách bất thường để dễ giải trình với cơ quan thuế.
Thông báo khuyến mại nộp cho cơ quan nào?
Với chương trình còn thuộc diện thông báo, thương nhân gửi hồ sơ đến Sở Công Thương nơi tổ chức khuyến mại, thông thường trước khi thực hiện tối thiểu 03 ngày làm việc. Chương trình mang tính may rủi phải đăng ký với Sở Công Thương (phạm vi một tỉnh) hoặc Bộ Công Thương (từ hai tỉnh trở lên).
Căn cứ pháp lý
- Luật Thương mại 2005 (các quy định về khuyến mại tại Mục 2 Chương IV).
- Nghị định 81/2018/NĐ-CP quy định chi tiết Luật Thương mại về hoạt động xúc tiến thương mại.
- Nghị định 128/2024/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung Nghị định 81/2018/NĐ-CP (hiệu lực từ 01/12/2024).
- Nghị định 239/2026/NĐ-CP ngày 26/06/2026 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 81/2018/NĐ-CP.
- Thông tư 39/2025/TT-BCT quy định hạn mức giá trị hàng hóa dùng để khuyến mại và mức giảm giá tối đa.
- Nghị định 98/2020/NĐ-CP (sửa đổi bởi Nghị định 17/2022/NĐ-CP) về xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thương mại.
Tóm lại, bán hàng giảm giá cho nhân viên theo chính sách phúc lợi nội bộ thường không phải khuyến mại và không có thủ tục thông báo. Nếu chính sách mở rộng ra bên ngoài và trở thành khuyến mại giảm giá, từ 01/12/2024 bạn cũng không phải thông báo với Sở Công Thương, nhưng vẫn phải tuân thủ hạn mức và công khai thông tin. Nên kiểm tra văn bản hiện hành trước khi triển khai vì quy định về khuyến mại được sửa đổi khá thường xuyên.
Thông tin cập nhật tháng 10/2026.











