Pháp luật Việt Nam không có tội danh riêng tên là “đánh người không gây thương tích”. Nếu bạn đánh người khác mà thương tích dưới 11% và không có tình tiết đặc biệt, thường bị xử phạt hành chính, không bị truy cứu hình sự. Nếu thương tích từ 11% trở lên, hoặc dưới 11% nhưng dùng hung khí, có tính chất côn đồ, đánh người yếu thế…, bạn có thể bị truy cứu theo Điều 134 Bộ luật Hình sự.
Tóm tắt nhanh
- Đánh người không để lại thương tích vẫn là hành vi vi phạm pháp luật, có thể bị phạt hành chính, buộc xin lỗi và bồi thường nếu gây thiệt hại.
- Gây thương tích hoặc tổn hại sức khỏe nhưng chưa đến mức hình sự: phạt tiền 6–8 triệu đồng theo Điều 8 Nghị định 282/2025/NĐ-CP (hiệu lực từ 15/12/2025).
- Mốc 11% tổn thương cơ thể là ranh giới phổ biến giữa xử phạt hành chính và truy cứu hình sự.
- Dưới 11% vẫn có thể bị xử lý hình sự nếu thuộc một trong các trường hợp nêu tại khoản 1 Điều 134 BLHS.
- Đánh người thân trong gia đình, đánh người đang thi hành công vụ hoặc gây rối nơi công cộng có thể bị xử lý theo quy định riêng.
Đánh người không gây thương tích có phải là tội phạm không?
Tội phạm trong lĩnh vực này được gọi là “Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác” (Điều 134 Bộ luật Hình sự). Luật không quy định riêng tội “đánh người”. Việc một cú đánh có bị coi là tội phạm hay không phụ thuộc vào:
- Tỷ lệ tổn thương cơ thể do cơ quan giám định pháp y xác định;
- Công cụ, thủ đoạn, động cơ (dùng dao, gậy, axit; có tổ chức; có tính chất côn đồ…);
- Đối tượng bị đánh (người dưới 16 tuổi, phụ nữ mang thai, người già yếu, ông bà, cha mẹ, thầy cô…);
- Tiền sự, tiền án của người đánh.
Vì vậy, “không gây thương tích” hoặc “thương tích nhẹ” không đồng nghĩa với “không bị xử lý”. Đây cũng là hành vi xâm phạm quyền được bảo vệ về tính mạng, sức khỏe. Bạn có thể tìm hiểu thêm ở bài quyền bất khả xâm phạm về thân thể của công dân.
Đánh người không gây thương tích bị phạt hành chính bao nhiêu?
Từ ngày 15/12/2025, mức xử phạt áp dụng theo Nghị định 282/2025/NĐ-CP (thay thế Nghị định 144/2021/NĐ-CP). Hành vi xâm phạm sức khỏe người khác nằm trong nhóm vi phạm quy định về trật tự công cộng tại Điều 8.
| Hành vi | Mức xử phạt |
|---|---|
| Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe người khác, chưa đến mức truy cứu hình sự | Phạt tiền 6.000.000 – 8.000.000 đồng (khoản 5 Điều 8 Nghị định 282/2025/NĐ-CP) |
| Tổ chức, thuê, xúi giục, lôi kéo người khác gây thương tích hoặc tổn hại sức khỏe nhưng chưa bị truy cứu hình sự | Mức phạt thấp hơn người trực tiếp đánh nhưng vẫn bị phạt tiền (nhiều triệu đồng) |
| Mang công cụ có khả năng sát thương để gây rối trật tự công cộng, chưa đến mức hình sự | Cùng khung phạt 6.000.000 – 8.000.000 đồng |
| Đánh nhau, xúi giục đánh nhau ở mức nhẹ (không gây tổn hại sức khỏe rõ ràng) | Xử phạt theo nhóm mức thấp về trật tự công cộng; trước đây (Nghị định 144/2021) là 500.000 – 1.000.000 đồng |
Ngoài phạt tiền, người vi phạm có thể bị tịch thu tang vật, phương tiện (ví dụ gậy, dao dùng để đánh) và bị buộc chi trả toàn bộ chi phí khám bệnh, chữa bệnh cho nạn nhân. Đây là các biện pháp quy định tại Điều 8 Nghị định 282/2025/NĐ-CP.
Lưu ý: Trước ngày 15/12/2025, hành vi cố ý gây thương tích chưa đến mức hình sự bị phạt 5–8 triệu đồng theo Nghị định 144/2021/NĐ-CP. Nhiều bài viết cũ vẫn ghi mức này. Hiện nay bạn cần áp dụng mức 6–8 triệu đồng. Thời hiệu xử phạt hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự là 01 năm.
Trường hợp cụ thể (đánh nhưng không để lại dấu vết, chỉ xô xát, hay đã gây đau đớn, bầm tím) sẽ do người có thẩm quyền xử phạt đánh giá để áp dụng đúng điểm, khoản.
Khi nào đánh người bị truy cứu trách nhiệm hình sự?
Theo khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung), người cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe cho người khác bị truy cứu trách nhiệm hình sự khi:
- Tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30%; hoặc
- Tỷ lệ dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp luật liệt kê (xem mục tiếp theo).
Khung hình phạt cơ bản: cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm. Các khung nặng hơn tăng dần theo tỷ lệ tổn thương, số nạn nhân và tình tiết định khung:
| Khoản | Trường hợp tiêu biểu | Hình phạt |
|---|---|---|
| Khoản 1 | Tổn thương 11%–30%, hoặc dưới 11% kèm tình tiết luật định | Cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc tù 06 tháng – 03 năm |
| Khoản 2 | Tổn thương 31%–60%; hai người trở lên, mỗi người 11%–30%; phạm tội 02 lần trở lên; tái phạm nguy hiểm… | Tù 02 năm – 06 năm |
| Khoản 3 | Tổn thương từ 61% trở lên; hai người trở lên, mỗi người 31%–60%… | Tù 05 năm – 10 năm |
| Khoản 4 | Làm chết người; biến dạng vùng mặt, tổn thương từ 61% trở lên… | Tù 07 năm – 14 năm |
| Khoản 5 trở đi | Hậu quả đặc biệt nghiêm trọng | Mức cao nhất có thể đến 20 năm tù hoặc tù chung thân |
Bảng trên chỉ nêu trường hợp tiêu biểu. Khi xét xử, tòa án còn xem xét nhân thân, tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng của từng vụ án.
Đánh người thương tích dưới 11% có bị đi tù không?
Về nguyên tắc, nếu chỉ gây thương tích dưới 11% và không thuộc các trường hợp luật định, người đánh không bị truy cứu hình sự, mà bị xử phạt hành chính như nêu ở trên. Tuy nhiên, bạn vẫn có thể bị khởi tố nếu hành vi thuộc một trong các trường hợp sau (khoản 1 Điều 134):
- Dùng vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm hoặc thủ đoạn có khả năng gây nguy hại cho nhiều người;
- Dùng axit nguy hiểm hoặc hóa chất nguy hiểm;
- Có tổ chức;
- Có tính chất côn đồ;
- Thuê gây thương tích hoặc được thuê gây thương tích;
- Đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ biết là có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người không có khả năng tự vệ;
- Đối với ông bà, cha mẹ, người nuôi dưỡng, thầy cô giáo, người chữa bệnh cho mình;
- Đối với người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân;
- Phạm tội 02 lần trở lên, tái phạm nguy hiểm.
Ví dụ: A dùng dao chém B, giám định tổn thương cơ thể 8%. Dù dưới 11%, A vẫn có thể bị khởi tố vì dùng hung khí nguy hiểm. Ngược lại, C tát D một cái trong lúc cãi nhau, giám định 2% và không có tình tiết đặc biệt, C thường chỉ bị xử phạt hành chính và phải bồi thường chi phí điều trị.
Lưu ý: Với trường hợp thuộc khoản 1 Điều 134, Điều 155 Bộ luật Tố tụng hình sự quy định chỉ khởi tố vụ án khi có yêu cầu của bị hại hoặc người đại diện hợp pháp của bị hại (người dưới 18 tuổi, người có nhược điểm về tâm thần, thể chất hoặc đã chết). Nếu bị hại rút yêu cầu trước khi mở phiên tòa sơ thẩm, vụ án có thể được đình chỉ. Quy định này không áp dụng cho các khung hình phạt nặng hơn.
Các trường hợp đặc biệt: gia đình, nơi công cộng, người thi hành công vụ
Đánh vợ, chồng, con, người thân có bị xử lý không?
Có. Hành hạ, ngược đãi, đánh đập hoặc cố ý xâm hại sức khỏe thành viên gia đình là hành vi bạo lực gia đình. Nghị định 282/2025/NĐ-CP quy định phạt tiền đến 20 triệu đồng đối với nhóm hành vi này. Nếu thương tích đạt ngưỡng hình sự, người đánh vẫn bị xử lý theo Điều 134 và có thể bị coi là phạm tội với tình tiết đối với người thân. Nạn nhân bạo lực kéo dài có thể cân nhắc ly hôn, xem thêm điều kiện ly hôn đơn phương.
Đánh nhau nơi công cộng
Ngoài trách nhiệm về sức khỏe, nếu hành vi gây mất trật tự công cộng, bạn còn có thể bị xử phạt về gây rối trật tự công cộng (Điều 8 Nghị định 282/2025/NĐ-CP). Trường hợp nghiêm trọng, có thể bị truy cứu theo Điều 318 Bộ luật Hình sự (tội gây rối trật tự công cộng).
Đánh người đang thi hành công vụ
Đánh cán bộ, người đang thi hành công vụ là tình tiết định khung tại Điều 134, đồng thời có thể bị xem xét theo Điều 330 Bộ luật Hình sự (tội chống người thi hành công vụ), tùy mức độ.
Mang vật dụng để “phòng thân” khi đánh nhau
Mang theo dao, gậy, công cụ hỗ trợ khi đánh nhau làm tăng nặng trách nhiệm. Bạn nên đọc thêm mang vũ khí nào để tự vệ mà không vi phạm pháp luật và bình xịt hơi cay tự vệ có bị cấm không.
Người chưa đủ 18 tuổi đánh người
Người từ đủ 14 đến dưới 16 tuổi chỉ chịu trách nhiệm hình sự với một số tội, một số khung nặng theo quy định; người từ đủ 16 tuổi chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm. Người chưa thành niên bị xử lý theo Luật Tư pháp người chưa thành niên 2024 với nguyên tắc ưu tiên giáo dục, phục hồi.
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại
Dù bị phạt hành chính hay xử lý hình sự, người gây thiệt hại phải bồi thường theo Bộ luật Dân sự 2015 (thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm). Khoản bồi thường gồm:
- Chi phí cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe;
- Thu nhập thực tế bị mất hoặc giảm sút của nạn nhân và người chăm sóc;
- Khoản bù đắp tổn thất về tinh thần: do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì mức tối đa cho một người có sức khỏe bị xâm phạm không quá 50 lần mức lương cơ sở.
Phòng vệ chính đáng và hòa giải
Nếu bạn buộc phải chống trả để bảo vệ mình trước hành vi xâm phạm đang diễn ra và hành động tương xứng, đó có thể là phòng vệ chính đáng và không bị coi là tội phạm (Điều 22 Bộ luật Hình sự). Chống trả vượt quá mức cần thiết thì vẫn phải chịu trách nhiệm.
Việc hai bên thỏa thuận bồi thường, xin lỗi là tình tiết có lợi cho người đánh. Với vụ việc chỉ bị xử phạt hành chính hoặc thuộc khoản 1 Điều 134, bị hại có thể rút yêu cầu khởi tố. Tuy nhiên, thỏa thuận riêng không tự động xóa bỏ việc xử phạt hành chính hoặc trách nhiệm hình sự ở những khung nặng hơn.
Cảnh báo: Không nên tự giải quyết bằng cách đe dọa, ép nạn nhân rút đơn hoặc xóa chứng cứ. Những hành vi này có thể làm tăng trách nhiệm pháp lý của bạn.
Bị đánh hoặc lỡ đánh người: nên làm gì?
Nếu bạn là người bị đánh
- Bước 1: Đến cơ sở y tế khám, giữ lại hồ sơ bệnh án, hóa đơn viện phí.
- Bước 2: Lưu chứng cứ: hình ảnh, video camera, tin nhắn, lời khai người chứng kiến.
- Bước 3: Trình báo Công an cấp xã nơi xảy ra sự việc hoặc cơ quan công an có thẩm quyền; làm đơn đề nghị xử lý và yêu cầu giám định thương tích khi cần.
- Bước 4: Nếu vụ việc thuộc diện khởi tố theo yêu cầu bị hại, nêu rõ yêu cầu khởi tố trong đơn.
Nếu bạn là người đã đánh người khác
- Bước 1: Hợp tác với cơ quan công an, khai báo trung thực.
- Bước 2: Chủ động hỗ trợ viện phí, thỏa thuận bồi thường bằng văn bản.
- Bước 3: Chấp hành quyết định xử phạt hành chính hoặc quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng.
Nếu bạn là học sinh, sinh viên hoặc người lao động bị yêu cầu viết tường trình sau vụ xô xát, có thể tham khảo cách viết bản kiểm điểm để trình bày rõ ràng, trung thực.
Căn cứ pháp lý
- Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017, 2025) – Điều 134, Điều 22, Điều 318, Điều 330.
- Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung) – Điều 155.
- Nghị định 282/2025/NĐ-CP ngày 30/10/2025 (hiệu lực 15/12/2025) về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng, chống bạo lực gia đình.
- Nghị định 144/2021/NĐ-CP (đã hết hiệu lực từ 15/12/2025).
- Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012 (sửa đổi, bổ sung 2020, 2025).
- Bộ luật Dân sự 2015 – quy định bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm.
- Luật Tư pháp người chưa thành niên 2024.
Thông tin cập nhật tháng 10/2026.
Câu hỏi thường gặp
Tội đánh người không gây thương tích là tội gì?
Luật không có tội danh này. Hành vi được xem xét theo Điều 134 Bộ luật Hình sự nếu đủ điều kiện, nếu không thì bị xử phạt hành chính theo Nghị định 282/2025/NĐ-CP. Trường hợp có yếu tố khác, hành vi còn có thể thuộc tội gây rối trật tự công cộng hoặc các tội danh liên quan.
Đánh người không gây thương tích có bị phạt tiền không?
Có thể. Nếu hành vi gây tổn hại sức khỏe nhưng chưa đến mức hình sự, mức phạt là 6–8 triệu đồng. Hành vi đánh nhau ở mức nhẹ có thể bị phạt theo nhóm mức thấp hơn về trật tự công cộng. Mức cụ thể do người có thẩm quyền xử phạt xác định.
Thương tích bao nhiêu phần trăm thì bị khởi tố hình sự?
Từ 11% trở lên thường bị xử lý hình sự. Dưới 11% vẫn bị khởi tố nếu thuộc trường hợp luật định như dùng hung khí, có tính chất côn đồ, đánh người dưới 16 tuổi, phụ nữ có thai, người già yếu hoặc người thi hành công vụ.
Đánh người không có giám định thương tích có bị xử lý không?
Có thể có. Giám định là căn cứ quan trọng để xác định tỷ lệ tổn thương, nhưng cơ quan có thẩm quyền còn dựa vào lời khai, video, nhân chứng và hồ sơ y tế. Thiếu giám định không đồng nghĩa với việc hành vi không bị xử lý.
Bị hại rút đơn thì người đánh có hết trách nhiệm không?
Chỉ trong một số trường hợp. Vụ án thuộc khoản 1 Điều 134 chỉ khởi tố khi có yêu cầu của bị hại, nên việc rút yêu cầu trước phiên tòa sơ thẩm có thể dẫn tới đình chỉ vụ án. Với các khung nặng hơn hoặc vi phạm hành chính, cơ quan chức năng vẫn có thể xử lý.
Đánh người có phải bồi thường không?
Có. Người gây thiệt hại phải bồi thường chi phí chữa bệnh, thu nhập bị mất và khoản bù đắp tổn thất tinh thần. Khi bị xử phạt hành chính, người vi phạm còn bị buộc chi trả chi phí khám, chữa bệnh cho nạn nhân.
Tóm lại, đánh người không gây thương tích nặng vẫn không phải là hành vi “vô can”: nhẹ thì bị phạt hành chính 6–8 triệu đồng và phải bồi thường, nặng hoặc có tình tiết đặc biệt thì có thể bị truy cứu theo Điều 134. Bạn nên xác định đúng tỷ lệ tổn thương, hung khí, đối tượng bị đánh và hoàn cảnh xảy ra sự việc để biết mình thuộc trường hợp nào.











