Bôi nhọ danh dự người khác là hành vi vi phạm pháp luật. Nếu chưa đến mức hình sự, bạn có thể bị phạt 3–4 triệu đồng theo Nghị định 282/2025/NĐ-CP, hoặc 20–30 triệu đồng nếu đăng tải trên mạng xã hội theo Nghị định 174/2026/NĐ-CP. Nếu bịa đặt, loan truyền điều sai sự thật hoặc xúc phạm nghiêm trọng, bạn có thể bị truy cứu về tội vu khống (Điều 156) hoặc tội làm nhục người khác (Điều 155) Bộ luật Hình sự.
Tóm tắt nhanh
- Chưa đến mức hình sự: phạt tiền 3–4 triệu đồng, kèm buộc xin lỗi công khai (NĐ 282/2025/NĐ-CP, hiệu lực từ 15/12/2025).
- Đăng thông tin sai sự thật, xúc phạm trên mạng xã hội: phạt 20–30 triệu đồng, buộc gỡ bỏ thông tin, có thể bị buộc khóa tài khoản, trang, nhóm (NĐ 174/2026/NĐ-CP, hiệu lực từ 01/7/2026).
- Tội làm nhục người khác (Điều 155 BLHS): từ cảnh cáo, phạt tiền 10–30 triệu đồng đến tù tối đa 5 năm.
- Tội vu khống (Điều 156 BLHS): từ phạt tiền 10–50 triệu đồng đến tù tối đa 7 năm.
- Dân sự: phải bồi thường thiệt hại, cải chính, xin lỗi; tổn thất tinh thần nếu không thỏa thuận được tối đa 10 lần mức lương cơ sở (25,3 triệu đồng với mức 2,53 triệu đồng/tháng từ 01/7/2026).
Bôi nhọ danh dự người khác là gì?
Pháp luật không có một điều luật riêng mang tên “bôi nhọ”. Cụm từ này là cách nói thông dụng, bao gồm các hành vi làm tổn hại danh dự, nhân phẩm, uy tín của người khác, như:
- Bịa đặt chuyện xấu, loan truyền thông tin mà mình biết là sai sự thật về một người.
- Chửi bới, lăng mạ, sỉ nhục trước đông người hoặc trên mạng xã hội.
- Đăng ảnh, clip, tin nhắn kèm lời lẽ xúc phạm để người khác chê cười.
- Bịa đặt người khác phạm tội rồi tố cáo họ với cơ quan có thẩm quyền.
Tùy tính chất, mức độ và hậu quả, hành vi đó có thể bị xử phạt hành chính, bị xử lý hình sự và phải bồi thường dân sự. Cả ba trách nhiệm này có thể áp dụng song song.
Lưu ý: Nói đúng sự thật, góp ý, phê bình có căn cứ hoặc tố cáo đúng với cơ quan có thẩm quyền không phải là bôi nhọ. Điều quyết định là nội dung có sai sự thật, có chủ ý xúc phạm và mức độ ảnh hưởng đến người bị nhắm tới.
Xử phạt hành chính khi bôi nhọ danh dự
Bôi nhọ, lăng mạ ngoài đời: phạt 3–4 triệu đồng
Theo Nghị định 282/2025/NĐ-CP (thay Nghị định 144/2021/NĐ-CP từ 15/12/2025), hành vi xúc phạm nhân phẩm, danh dự của người khác nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự, hoặc khiêu khích, trêu ghẹo, lăng mạ, bôi nhọ danh dự, nhân phẩm của người khác, bị phạt tiền từ 3.000.000 đến 4.000.000 đồng. Quy định này nằm trong nhóm vi phạm về trật tự công cộng (điểm a khoản 3 Điều 8).
Ngoài phạt tiền, người vi phạm còn có thể bị buộc xin lỗi công khai tại nhà riêng, nơi làm việc, địa điểm khác hoặc trên phương tiện thông tin đại chúng, trừ trường hợp nạn nhân không yêu cầu.
Cùng nghị định này, cũng có những mức riêng cho từng đối tượng bị xúc phạm:
| Đối tượng bị xúc phạm | Mức phạt tiền |
|---|---|
| Người khác nói chung (nơi công cộng, đời sống thường ngày) | 3.000.000 – 4.000.000 đồng |
| Người đang thi hành công vụ (đe dọa, lăng mạ, xúc phạm danh dự, nhân phẩm) | 4.000.000 – 6.000.000 đồng |
| Thành viên gia đình (lăng mạ, chì chiết, xúc phạm danh dự, nhân phẩm) | 5.000.000 – 10.000.000 đồng |
| Tiết lộ, phát tán bí mật đời tư của thành viên gia đình nhằm xúc phạm | 10.000.000 – 20.000.000 đồng |
Bôi nhọ, đăng tin sai sự thật trên mạng xã hội: phạt 20–30 triệu đồng
Từ 01/7/2026, Nghị định 174/2026/NĐ-CP (xử phạt lĩnh vực bưu chính, viễn thông, giao dịch điện tử, công nghệ thông tin) quy định hành vi lợi dụng mạng xã hội để cung cấp, chia sẻ thông tin giả mạo, thông tin sai sự thật, xuyên tạc, vu khống, xúc phạm uy tín của tổ chức hoặc danh dự, nhân phẩm của cá nhân bị phạt từ 20.000.000 đến 30.000.000 đồng. Mức này cao hơn quy định cũ trong Nghị định 15/2020/NĐ-CP (10–20 triệu đồng).
Nếu thông tin sai sự thật gây hoang mang trong nhân dân, gây thiệt hại cho hoạt động kinh tế – xã hội, gây khó khăn cho cơ quan nhà nước hoặc xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của người khác mà chưa đến mức hình sự, mức phạt là 30–50 triệu đồng.
Biện pháp khắc phục kèm theo gồm buộc gỡ bỏ thông tin sai sự thật hoặc vi phạm pháp luật, và có thể buộc khóa tài khoản, trang cộng đồng, nhóm cộng đồng hoặc kênh nội dung dùng để vi phạm.
Cảnh báo: Chia sẻ lại (share) bài viết bôi nhọ người khác khi biết rõ nội dung sai sự thật cũng có thể bị xem là hành vi “chia sẻ thông tin sai sự thật”. Bạn không nên đăng, chia sẻ khi chưa kiểm chứng.
Các hành vi tương tự theo Nghị định 282/2025/NĐ-CP, như mang công cụ hỗ trợ trái phép hay sử dụng chất kích thích, cũng có mức phạt riêng. Bạn có thể tham khảo thêm bài người sử dụng bóng cười có vi phạm không và bình xịt hơi cay tự vệ có bị cấm không để biết cách pháp luật phân loại vi phạm hành chính và hình sự.
Tội làm nhục người khác (Điều 155 BLHS)
Người nào xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác thì bị truy cứu theo Điều 155 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017, 2025). Hành vi có thể qua lời nói, hành động, hình ảnh hoặc phương tiện điện tử.
| Khung | Tình tiết | Hình phạt |
|---|---|---|
| Khoản 1 | Xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự (trường hợp cơ bản) | Cảnh cáo, phạt tiền 10–30 triệu đồng hoặc cải tạo không giam giữ đến 3 năm |
| Khoản 2 | Phạm tội 2 lần trở lên; đối với 2 người trở lên; lợi dụng chức vụ, quyền hạn; đối với người đang thi hành công vụ; đối với người có quan hệ dạy dỗ, nuôi dưỡng, chăm sóc, chữa bệnh cho mình; dùng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử… | Phạt tù từ 3 tháng đến 2 năm |
| Khoản 3 | Làm nạn nhân rối loạn tâm thần và hành vi với tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 61% trở lên; làm nạn nhân tự sát | Phạt tù từ 2 năm đến 5 năm |
Ngoài hình phạt chính, người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 1 năm đến 5 năm. Chủ thể là người từ đủ 16 tuổi trở lên và có năng lực trách nhiệm hình sự.
Ví dụ tình huống: A đăng clip quay cảnh B bị đánh ghen lên Facebook, kèm lời lẽ lăng mạ, kêu gọi mọi người “ném đá”. Clip lan truyền khiến B bị suy sụp, mất việc. Hành vi của A có thể bị xem xét theo Điều 155, với tình tiết dùng phương tiện điện tử, ngoài trách nhiệm bồi thường dân sự.
Tội vu khống (Điều 156 BLHS)
Điều 156 Bộ luật Hình sự xử lý người thực hiện một trong hai nhóm hành vi sau:
- Bịa đặt hoặc loan truyền những điều biết rõ là sai sự thật nhằm xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự hoặc gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác;
- Bịa đặt người khác phạm tội và tố cáo họ trước cơ quan có thẩm quyền.
| Khung | Tình tiết | Hình phạt |
|---|---|---|
| Khoản 1 | Trường hợp cơ bản | Phạt tiền 10–50 triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến 2 năm hoặc phạt tù 3 tháng – 1 năm |
| Khoản 2 | Có tổ chức; lợi dụng chức vụ, quyền hạn; đối với 2 người trở lên; dùng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử; gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội… | Phạt tù từ 1 năm đến 3 năm |
| Khoản 3 | Hậu quả rất nghiêm trọng, như gây rối loạn tâm thần nặng hoặc làm nạn nhân tự sát | Phạt tù từ 3 năm đến 7 năm |
Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10 đến 50 triệu đồng và bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 1 đến 5 năm.
Điểm mấu chốt của tội vu khống là lỗi cố ý: người đăng tin biết rõ thông tin là sai nhưng vẫn bịa đặt hoặc loan truyền. Nếu người nói tin vào thông tin sai do bị nhầm lẫn, họ có thể không bị coi là vu khống, nhưng vẫn có thể phải gỡ bài, cải chính, xin lỗi.
Ví dụ tình huống: Một người bịa chuyện đồng nghiệp tham ô, làm đơn tố cáo lên cơ quan có thẩm quyền và đăng thêm lên nhóm cộng đồng của công ty. Nếu cơ quan chức năng xác định nội dung hoàn toàn bịa đặt và người này biết rõ điều đó, hành vi có thể bị xử lý theo Điều 156. Việc dùng mạng xã hội là tình tiết có thể đẩy hình phạt lên khung nặng hơn.
Phân biệt vu khống, làm nhục và xử phạt hành chính
| Tiêu chí | Xử phạt hành chính | Tội làm nhục (Đ.155) | Tội vu khống (Đ.156) |
|---|---|---|---|
| Bản chất | Xúc phạm, lăng mạ, bôi nhọ chưa nghiêm trọng | Xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự (thông tin có thể đúng hoặc sai) | Bịa đặt hoặc loan truyền điều biết rõ là sai; hoặc bịa đặt người khác phạm tội để tố cáo |
| Ngưỡng xử lý | Chưa đến mức hình sự | Mức độ nghiêm trọng | Mức độ nghiêm trọng hoặc gây thiệt hại quyền, lợi ích hợp pháp |
| Hình thức xử lý | Phạt tiền, buộc xin lỗi, gỡ bỏ thông tin | Cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ, phạt tù | Phạt tiền, cải tạo không giam giữ, phạt tù |
Với khoản 1 Điều 155 và khoản 1 Điều 156, theo Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, cơ quan tố tụng chỉ khởi tố khi có yêu cầu của người bị hại hoặc người đại diện hợp pháp. Nếu người bị hại rút yêu cầu trước khi mở phiên tòa sơ thẩm thì vụ án có thể bị đình chỉ. Các khung nặng hơn không phụ thuộc quy định này.
Không phải mọi mâu thuẫn đều dừng ở mức xử phạt. Nếu nạn nhân là người thân trong gia đình và mâu thuẫn kéo dài, bạn có thể tham khảo thêm bài ly hôn đơn phương cần những điều kiện gì, vì xúc phạm danh dự, nhân phẩm của vợ/chồng có thể là căn cứ trong vụ việc hôn nhân.
Trách nhiệm bồi thường dân sự
Bộ luật Dân sự 2015 bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân. Người có hành vi xâm phạm phải chấm dứt hành vi, xin lỗi, cải chính công khai và bồi thường thiệt hại. Việc bồi thường gồm:
- Chi phí hợp lý để hạn chế, khắc phục thiệt hại (thuê dịch vụ gỡ bài, thuê người bảo vệ quyền lợi…);
- Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút (nếu chứng minh được);
- Một khoản tiền bù đắp tổn thất tinh thần do các bên thỏa thuận.
Nếu không thỏa thuận được, mức bù đắp tổn thất tinh thần cho một người có danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm tối đa là 10 lần mức lương cơ sở (khoản 2 Điều 592 Bộ luật Dân sự 2015). Từ 01/7/2026, lương cơ sở là 2.530.000 đồng/tháng theo Nghị định 161/2026/NĐ-CP, nên mức tối đa tương ứng là 25.300.000 đồng. Trước đó, với mức 2.340.000 đồng/tháng, mức tối đa là 23.400.000 đồng.
Khi cần giải quyết tranh chấp dân sự, bạn có thể khởi kiện tại Tòa án nhân dân khu vực (từ 01/7/2025) có thẩm quyền theo nơi cư trú của người bị kiện, hoặc yêu cầu bồi thường ngay trong vụ án hình sự.
Bị bôi nhọ danh dự thì phải làm gì?
- Bước 1: Lưu giữ chứng cứ. Chụp màn hình bài đăng, bình luận, tin nhắn; ghi rõ đường dẫn, ngày giờ, tên tài khoản. Nếu là lời nói ngoài đời, nhờ người làm chứng, ghi âm (nếu có) và nêu rõ thời gian, địa điểm.
- Bước 2: Yêu cầu gỡ bỏ, xin lỗi. Có thể nhắn yêu cầu bằng văn bản hoặc tin nhắn, đồng thời báo cáo nội dung vi phạm lên nền tảng mạng xã hội để được gỡ bỏ.
- Bước 3: Thương lượng, hòa giải. Với tranh chấp nhỏ, bạn có thể nhờ tổ hòa giải ở cơ sở hoặc chính quyền xã, phường hỗ trợ hòa giải.
- Bước 4: Gửi đơn tố giác, đề nghị xử lý. Nộp đơn tại Công an xã, phường nơi xảy ra hành vi hoặc nơi người vi phạm cư trú; vụ việc nghiêm trọng có thể gửi cơ quan Công an cấp tỉnh. Đơn cần nêu rõ nội dung hành vi, thiệt hại và kèm chứng cứ. Với tội khởi tố theo yêu cầu bị hại, bạn cần nêu rõ yêu cầu khởi tố.
- Bước 5: Khởi kiện dân sự nếu cần. Gửi đơn khởi kiện đòi cải chính, xin lỗi, bồi thường lên Tòa án có thẩm quyền.
Lưu ý: Không nên “đáp trả” bằng cách chửi lại, đăng bài phản công hay tự ý công khai thông tin cá nhân của đối phương. Hành vi đó có thể khiến bạn vi phạm pháp luật và làm yếu vị thế của mình khi giải quyết vụ việc. Quyền được bảo vệ danh dự của công dân gắn với quyền bất khả xâm phạm về thân thể và nhân phẩm; bạn có thể tham khảo bài quyền bất khả xâm phạm về thân thể của công dân.
Nếu vi phạm xảy ra trong trường học hoặc cơ quan, đơn vị, người vi phạm ngoài trách nhiệm pháp lý còn có thể bị nhắc nhở, kiểm điểm theo nội quy. Cách trình bày bản kiểm điểm được hướng dẫn ở bài cách viết bản kiểm điểm.
Căn cứ pháp lý
- Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017, 2025): Điều 155, Điều 156.
- Bộ luật Tố tụng hình sự 2015: quy định khởi tố vụ án theo yêu cầu của bị hại.
- Bộ luật Dân sự 2015: quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín; bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng (Điều 584, Điều 592).
- Nghị định 282/2025/NĐ-CP xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng, chống bạo lực gia đình (hiệu lực 15/12/2025).
- Nghị định 174/2026/NĐ-CP xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bưu chính, viễn thông, tần số vô tuyến điện, giao dịch điện tử và công nghệ thông tin (hiệu lực 01/7/2026).
- Nghị định 161/2026/NĐ-CP về mức lương cơ sở (hiệu lực 01/7/2026).
Thông tin cập nhật tháng 10/2026. Nội dung chỉ mang tính tham khảo chung, không thay thế ý kiến của cơ quan có thẩm quyền trong từng vụ việc cụ thể.
Câu hỏi thường gặp
Nói xấu, bôi nhọ người khác trên Facebook bị phạt bao nhiêu?
Từ 01/7/2026, đăng hoặc chia sẻ thông tin sai sự thật, vu khống, xúc phạm danh dự, nhân phẩm cá nhân trên mạng xã hội bị phạt 20–30 triệu đồng theo Nghị định 174/2026/NĐ-CP, đồng thời bị buộc gỡ bỏ thông tin. Nếu nghiêm trọng, người đăng có thể bị truy cứu hình sự theo Điều 155 hoặc Điều 156 Bộ luật Hình sự.
Bôi nhọ danh dự người khác có bị đi tù không?
Có thể. Tội làm nhục người khác có khung phạt tù tối đa 5 năm, tội vu khống tối đa 7 năm. Tuy nhiên khung cơ bản của cả hai tội chủ yếu là phạt tiền hoặc cải tạo không giam giữ; phạt tù được áp dụng khi có tình tiết tăng nặng hoặc hậu quả nghiêm trọng.
Người dưới 16 tuổi bôi nhọ bạn bè có bị xử lý hình sự không?
Người dưới 16 tuổi không bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội làm nhục hay vu khống vì đây không thuộc các tội phạm mà người từ đủ 14 đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm. Tuy vậy, gia đình vẫn có thể phải bồi thường dân sự, và nhà trường có thể xử lý kỷ luật theo quy định.
Có thể rút đơn tố cáo vu khống, làm nhục không?
Với khoản 1 Điều 155 và khoản 1 Điều 156, người bị hại có thể rút yêu cầu khởi tố trước khi mở phiên tòa sơ thẩm và vụ án có thể bị đình chỉ. Với các khung hình phạt nặng hơn, việc rút đơn không đương nhiên chấm dứt việc xử lý.
Chửi bới hàng xóm có bị phạt không?
Có. Nếu chưa đến mức hình sự, hành vi chửi bới, lăng mạ, xúc phạm danh dự người khác bị phạt 3–4 triệu đồng theo Nghị định 282/2025/NĐ-CP và có thể bị buộc xin lỗi công khai.
Bị bôi nhọ có đòi bồi thường tinh thần được không?
Được. Bạn có thể yêu cầu bồi thường chi phí hợp lý, thu nhập bị mất và tổn thất tinh thần. Nếu hai bên không thỏa thuận được, mức bù đắp tổn thất tinh thần tối đa là 10 lần mức lương cơ sở, tức 25,3 triệu đồng theo mức lương cơ sở từ 01/7/2026.
Tóm lại, bôi nhọ danh dự người khác có thể kéo theo ba lớp trách nhiệm: phạt hành chính, xử lý hình sự và bồi thường dân sự. Trước khi đăng hoặc nói về ai, bạn nên kiểm chứng thông tin. Nếu là người bị xâm phạm, hãy lưu chứng cứ ngay và gửi đề nghị đến cơ quan có thẩm quyền.










