Tạm giam là biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự, do cơ quan có thẩm quyền áp dụng với bị can, bị cáo, theo đó người bị áp dụng bị cách ly khỏi xã hội trong một thời hạn nhất định. Theo Điều 119 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, tạm giam được áp dụng với tội rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng, hoặc các tội nhẹ hơn nếu có căn cứ luật định.
Tóm tắt nhanh
- Tạm giam chỉ áp dụng với bị can, bị cáo, không áp dụng với người mới bị tạm giữ hay người chưa bị khởi tố bị can.
- Tội đặc biệt nghiêm trọng, tội rất nghiêm trọng: có thể bị tạm giam. Tội nghiêm trọng, ít nghiêm trọng (khung phạt tù trên 2 năm): chỉ tạm giam khi có một trong các căn cứ luật quy định.
- Thời hạn tạm giam để điều tra ban đầu: 2 tháng (ít nghiêm trọng), 3 tháng (nghiêm trọng), 4 tháng (rất nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng); có thể gia hạn theo từng loại tội.
- Phụ nữ có thai, người nuôi con dưới 36 tháng tuổi, người già yếu, người bệnh nặng có nơi cư trú và lý lịch rõ ràng thì nguyên tắc là không tạm giam.
- Từ 01/07/2026, việc thi hành tạm giữ, tạm giam theo Luật số 128/2025/QH15.
Tạm giam là gì?
Tạm giam là một trong các biện pháp ngăn chặn của Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS). Đây là biện pháp nghiêm khắc nhất vì người bị áp dụng bị hạn chế tự do thân thể, cư trú, đi lại trong suốt thời gian bị giam. Mục đích của tạm giam là ngăn người đó gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử, ngăn họ tiếp tục phạm tội hoặc để bảo đảm thi hành án.

Tạm giam không phải hình phạt. Người bị tạm giam vẫn được coi là chưa có tội cho đến khi có bản án của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật. Tuy nhiên, nếu sau này bị kết án phạt tù, thời gian đã bị tạm giữ, tạm giam được trừ vào thời hạn chấp hành hình phạt tù theo quy định của Bộ luật Hình sự.
Biện pháp này liên quan trực tiếp đến quyền bất khả xâm phạm về thân thể của công dân, nên luật đặt ra điều kiện, thẩm quyền và thời hạn rất chặt chẽ. Bạn có thể tìm hiểu thêm nguyên tắc chung ở bài quyền bất khả xâm phạm về thân thể của công dân.
Các trường hợp tạm giam để điều tra
Điều 119 BLTTHS 2015 chia thành ba nhóm. Để hiểu đúng, bạn cần nắm cách phân loại tội phạm theo Bộ luật Hình sự (căn cứ mức cao nhất của khung hình phạt):
| Loại tội phạm | Mức cao nhất của khung hình phạt |
|---|---|
| Ít nghiêm trọng | Đến 3 năm tù |
| Nghiêm trọng | Trên 3 năm đến 7 năm tù |
| Rất nghiêm trọng | Trên 7 năm đến 15 năm tù |
| Đặc biệt nghiêm trọng | Trên 15 năm đến 20 năm tù, chung thân hoặc tử hình |
Nhóm 1: Tội đặc biệt nghiêm trọng, tội rất nghiêm trọng
Bị can, bị cáo phạm tội đặc biệt nghiêm trọng hoặc rất nghiêm trọng có thể bị tạm giam mà không cần thêm điều kiện khác. Đây là nhóm áp dụng phổ biến nhất trên thực tế.
Nhóm 2: Tội nghiêm trọng, ít nghiêm trọng có khung phạt tù trên 2 năm
Với các tội này, tạm giam chỉ áp dụng khi có căn cứ xác định người đó thuộc một trong các trường hợp sau:
- Đã bị áp dụng biện pháp ngăn chặn khác nhưng vi phạm.
- Không có nơi cư trú rõ ràng hoặc không xác định được lý lịch của bị can.
- Bỏ trốn và bị bắt theo quyết định truy nã, hoặc có dấu hiệu bỏ trốn.
- Tiếp tục phạm tội hoặc có dấu hiệu tiếp tục phạm tội.
- Có hành vi mua chuộc, cưỡng ép, xúi giục người khác khai báo gian dối, cung cấp tài liệu sai sự thật; tiêu hủy, giả mạo chứng cứ, tài liệu, đồ vật của vụ án; tẩu tán tài sản liên quan đến vụ án; đe dọa, khống chế, trả thù người làm chứng, bị hại, người tố giác tội phạm hoặc người thân thích của họ.
- Phạm tội xâm phạm an ninh quốc gia và có đủ căn cứ xác định nếu không tạm giam sẽ gây nguy hại đến an ninh quốc gia.
Nhóm 3: Tội ít nghiêm trọng có khung phạt tù đến 2 năm
Trường hợp này hẹp hơn: chỉ tạm giam nếu bị can, bị cáo tiếp tục phạm tội hoặc bỏ trốn và bị bắt theo quyết định truy nã. Nếu chỉ “có dấu hiệu” bỏ trốn thì chưa đủ căn cứ tạm giam ở nhóm này.
Lưu ý: “Nơi cư trú rõ ràng” là một căn cứ quan trọng khi cơ quan tố tụng cân nhắc tạm giam hay dùng biện pháp khác. Bạn có thể xem thêm cách khai báo nơi ở hợp pháp ở bài đăng ký tạm trú online, và giấy tờ chứng minh nhân thân ở bài mẫu giấy xác nhận nhân thân.
Những trường hợp không bị tạm giam
Theo khoản 4 Điều 119 BLTTHS 2015, bị can, bị cáo là phụ nữ có thai, phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi, người già yếu, người bị bệnh nặng mà có nơi cư trú và lý lịch rõ ràng thì không tạm giam mà áp dụng biện pháp ngăn chặn khác (như bảo lĩnh, đặt tiền hoặc tài sản để bảo đảm, cấm đi khỏi nơi cư trú).
Ngoại lệ: vẫn có thể bị tạm giam nếu bỏ trốn và bị bắt theo quyết định truy nã; tiếp tục phạm tội; có hành vi mua chuộc, cưỡng ép, tiêu hủy chứng cứ, đe dọa người làm chứng, bị hại như nêu trên; hoặc phạm tội xâm phạm an ninh quốc gia và có đủ căn cứ cho thấy nếu không tạm giam sẽ gây nguy hại cho an ninh quốc gia.
Với người dưới 18 tuổi, Luật Tư pháp người chưa thành niên 2024 có quy định riêng theo hướng hạn chế biện pháp tước tự do; tạm giam chỉ nên được xem là biện pháp cuối cùng khi thật cần thiết. Nếu cần áp dụng cho một trường hợp cụ thể, bạn nên đối chiếu trực tiếp văn bản này.
Thời hạn tạm giam để điều tra và gia hạn
Thời hạn tạm giam bị can trong giai đoạn điều tra được quy định tại Điều 173 BLTTHS 2015: không quá 2 tháng với tội ít nghiêm trọng, không quá 3 tháng với tội nghiêm trọng, không quá 4 tháng với tội rất nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng.
Nếu vụ án có nhiều tình tiết phức tạp và không có căn cứ thay đổi, hủy bỏ biện pháp tạm giam, chậm nhất 10 ngày trước khi hết thời hạn, Cơ quan điều tra phải có văn bản đề nghị Viện kiểm sát gia hạn.
| Loại tội phạm | Thời hạn ban đầu | Gia hạn | Tổng tối đa (giai đoạn điều tra) |
|---|---|---|---|
| Ít nghiêm trọng | 2 tháng | 1 lần, không quá 1 tháng | 3 tháng |
| Nghiêm trọng | 3 tháng | 1 lần, không quá 2 tháng | 5 tháng |
| Rất nghiêm trọng | 4 tháng | 1 lần, không quá 3 tháng | 7 tháng |
| Đặc biệt nghiêm trọng | 4 tháng | 2 lần, mỗi lần không quá 4 tháng | 12 tháng |
Riêng tội xâm phạm an ninh quốc gia, trường hợp cần thiết, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao có quyền gia hạn thêm một lần không quá 4 tháng.
Sau giai đoạn điều tra, người bị tạm giam tiếp tục có thể bị tạm giam trong giai đoạn truy tố và xét xử, nhưng thời hạn khi đó tính theo thời hạn luật quy định cho từng giai đoạn tố tụng. Hết thời hạn mà không có quyết định gia hạn hợp pháp thì phải trả tự do hoặc thay đổi biện pháp ngăn chặn.
Lưu ý: Từ 01/07/2025, Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi BLTTHS đã điều chỉnh tên gọi và thẩm quyền theo mô hình tổ chức mới (Viện kiểm sát nhân dân khu vực, Tòa án nhân dân khu vực; không còn cấp huyện). Ví dụ, Viện kiểm sát nhân dân khu vực có quyền gia hạn tạm giam đối với tội ít nghiêm trọng, nghiêm trọng và rất nghiêm trọng; với tội đặc biệt nghiêm trọng, thẩm quyền thuộc Viện kiểm sát cấp tỉnh hoặc cấp cao hơn.
Ai có quyền ra lệnh tạm giam, thủ tục ra sao?
Theo Điều 113 BLTTHS, những người có quyền ra lệnh, quyết định bắt bị can, bị cáo để tạm giam gồm: Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra các cấp (và một số Điều tra viên theo quy định sau khi sửa đổi năm 2025); Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát; Chánh án, Phó Chánh án Tòa án; Hội đồng xét xử.

- Bước 1: Người có thẩm quyền ra lệnh bắt bị can để tạm giam hoặc lệnh tạm giam.
- Bước 2: Lệnh của Cơ quan điều tra phải được Viện kiểm sát cùng cấp phê chuẩn trước khi thi hành. Viện kiểm sát phải ra quyết định phê chuẩn hoặc không phê chuẩn trong 3 ngày kể từ khi nhận được lệnh, đề nghị phê chuẩn và hồ sơ.
- Bước 3: Người thi hành lệnh đọc lệnh, giải thích quyền và nghĩa vụ, lập biên bản và đưa người bị tạm giam đến cơ sở giam giữ.
- Bước 4: Cơ quan điều tra kiểm tra căn cước của người bị tạm giam và thông báo ngay cho gia đình, chính quyền xã, phường, đơn vị hoặc cơ quan, tổ chức nơi người đó cư trú, làm việc hoặc học tập biết.
Tạm giam khác tạm giữ như thế nào?
| Tiêu chí | Tạm giữ | Tạm giam |
|---|---|---|
| Đối tượng | Người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp, phạm tội quả tang, bị bắt theo lệnh truy nã, người phạm tội tự thú, đầu thú | Bị can, bị cáo |
| Thời hạn | Không quá 3 ngày; có thể gia hạn tối đa 2 lần, mỗi lần không quá 3 ngày (đều phải được Viện kiểm sát phê chuẩn) | Tính theo tháng, theo từng giai đoạn tố tụng |
| Mức độ | Ngắn hạn, để xác minh ban đầu | Biện pháp ngăn chặn nghiêm khắc nhất |
Quyền của người bị tạm giam
Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam và cấm đi khỏi nơi cư trú số 128/2025/QH15 có hiệu lực từ 01/07/2026, thay thế Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam 2015. Theo đó, người bị tạm giam được bảo đảm chế độ ăn, ở, chăm sóc y tế; được giải thích quyền và nghĩa vụ; được gặp người bào chữa, gặp thân nhân, nhận quà, gửi thư; được khiếu nại, tố cáo. Luật nghiêm cấm bức cung, nhục hình và mọi hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm.
Luật mới cũng không tổ chức cơ quan quản lý thi hành tạm giữ, tạm giam ở cấp huyện; hệ thống được tổ chức tập trung ở Bộ Công an và Công an cấp tỉnh. Việc thi hành biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú được đưa vào cùng một đạo luật, trong đó Công an cấp xã có vai trò quản lý, giám sát.
Nếu cho rằng việc tạm giam trái pháp luật, người bị tạm giam hoặc người đại diện có quyền khiếu nại. Cơ quan, người có thẩm quyền phải chuyển ngay khiếu nại đến Viện kiểm sát thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra trong 24 giờ kể từ khi nhận được. Ngoài ra, người bị buộc tội hoặc người bào chữa có thể đề nghị thay thế bằng biện pháp nhẹ hơn như bảo lĩnh, đặt tiền hoặc tài sản bảo đảm.
Cảnh báo: Việc phạm tội ở mức nào sẽ dẫn đến tạm giam tùy thuộc từng tội danh và tình tiết cụ thể. Ví dụ, các hành vi liên quan đến ma túy có thể từ xử phạt hành chính đến truy cứu trách nhiệm hình sự tùy số lượng; bạn có thể xem bài trồng bao nhiêu cây cần sa thì bị bắt để hiểu ranh giới giữa vi phạm hành chính và tội phạm.
Ví dụ tình huống
Anh A (cư trú ổn định, có việc làm) bị khởi tố về tội trộm cắp tài sản thuộc loại tội nghiêm trọng, chưa từng vi phạm biện pháp ngăn chặn nào. Nếu không có căn cứ như bỏ trốn, tiếp tục phạm tội hay cản trở điều tra, cơ quan tố tụng thường cân nhắc biện pháp nhẹ hơn như cấm đi khỏi nơi cư trú hoặc bảo lĩnh. Ngược lại, nếu anh A đã bỏ trốn và bị truy nã, họ có căn cứ để tạm giam. Đây chỉ là tình huống minh họa; mỗi vụ án được quyết định dựa trên hồ sơ cụ thể.
Căn cứ pháp lý
- Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 (Luật số 101/2015/QH13), đặc biệt Điều 113, Điều 119, Điều 173; được sửa đổi, bổ sung năm 2021 và bởi Luật số 99/2025/QH15 (hiệu lực 01/07/2025); văn bản hợp nhất số 104/VBHN-VPQH.
- Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017, 2025) về phân loại tội phạm và trừ thời gian tạm giam vào thời hạn chấp hành hình phạt tù.
- Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam và cấm đi khỏi nơi cư trú số 128/2025/QH15 (hiệu lực 01/07/2026).
- Luật Tư pháp người chưa thành niên số 59/2024/QH15.
Thông tin cập nhật tháng 10/2026.
Câu hỏi thường gặp
Tạm giam là gì và ai bị tạm giam?
Tạm giam là biện pháp ngăn chặn do cơ quan tiến hành tố tụng áp dụng với bị can, bị cáo, buộc họ bị cách ly khỏi xã hội trong thời hạn nhất định. Người chưa bị khởi tố bị can thì không thuộc đối tượng tạm giam, chỉ có thể bị tạm giữ trong những trường hợp luật định.
Tạm giam tối đa bao lâu trong giai đoạn điều tra?
Tối đa là 3 tháng với tội ít nghiêm trọng, 5 tháng với tội nghiêm trọng, 7 tháng với tội rất nghiêm trọng và 12 tháng với tội đặc biệt nghiêm trọng (gồm cả thời gian gia hạn). Riêng tội xâm phạm an ninh quốc gia có thể gia hạn thêm một lần không quá 4 tháng.
Tội ít nghiêm trọng có bị tạm giam không?
Có, nhưng điều kiện chặt chẽ hơn. Nếu khung phạt tù trên 2 năm thì phải có một trong các căn cứ như vi phạm biện pháp ngăn chặn khác, không có nơi cư trú rõ ràng, bỏ trốn. Nếu khung phạt tù chỉ đến 2 năm thì chỉ tạm giam khi tiếp tục phạm tội hoặc bỏ trốn và bị bắt theo quyết định truy nã.
Phụ nữ đang nuôi con nhỏ có bị tạm giam không?
Nguyên tắc là không, nếu phụ nữ có thai hoặc nuôi con dưới 36 tháng tuổi có nơi cư trú và lý lịch rõ ràng; khi đó áp dụng biện pháp ngăn chặn khác. Tuy nhiên vẫn có thể bị tạm giam nếu thuộc các ngoại lệ như bỏ trốn bị truy nã, tiếp tục phạm tội hoặc cản trở điều tra.
Thời gian bị tạm giam có được trừ vào án phạt tù không?
Có. Thời gian tạm giữ, tạm giam được trừ vào thời hạn chấp hành hình phạt tù theo Bộ luật Hình sự; cứ 1 ngày tạm giữ, tạm giam được tính bằng 1 ngày tù.
Hết thời hạn tạm giam mà chưa có quyết định gia hạn thì sao?
Khi hết thời hạn tạm giam mà không có quyết định gia hạn hợp pháp hoặc quyết định tiếp theo của cơ quan có thẩm quyền, cơ sở giam giữ phải trả tự do cho người bị tạm giam hoặc chuyển sang biện pháp ngăn chặn khác theo quy định.
Tóm lại, tạm giam là biện pháp ngăn chặn nghiêm khắc, chỉ được áp dụng với bị can, bị cáo khi thuộc các trường hợp tại Điều 119 BLTTHS 2015 và phải tuân thủ thẩm quyền, thủ tục, thời hạn theo luật. Từ 01/07/2026, việc thi hành tạm giam được điều chỉnh bởi Luật số 128/2025/QH15, tiếp tục nhấn mạnh bảo đảm quyền con người của người bị tạm giam.











