Bộ luật Dân sự không giải thích riêng “súc vật là gì”. Trên thực tế, thuật ngữ này được hiểu là vật nuôi do con người nuôi giữ, gồm gia súc (trâu, bò, lợn, dê…), gia cầm và các động vật nuôi khác như chó, mèo. Khi súc vật gây thiệt hại cho người khác, chủ sở hữu hoặc người đang chiếm hữu, sử dụng súc vật phải bồi thường theo Điều 603 Bộ luật Dân sự 2015.
Tóm tắt nhanh
- “Súc vật” không có định nghĩa riêng trong Bộ luật Dân sự; thường đối chiếu với khái niệm “vật nuôi” của Luật Chăn nuôi 2018.
- Chủ sở hữu bồi thường; người đang chiếm hữu, sử dụng bồi thường trong thời gian chiếm hữu, sử dụng, trừ khi có thỏa thuận khác.
- Người thứ ba trêu chọc, kích động súc vật gây thiệt hại phải chịu trách nhiệm; nếu cùng có lỗi với chủ thì bồi thường liên đới.
- Người bị thiệt hại hoàn toàn có lỗi hoặc do sự kiện bất khả kháng thì chủ súc vật không phải bồi thường.
- Ngoài trách nhiệm dân sự, chủ nuôi có thể bị phạt hành chính, thậm chí chịu trách nhiệm hình sự tùy hậu quả.
Súc vật là gì theo quy định pháp luật?
Trong đời sống, “súc vật” là cách gọi chung các loài động vật được con người nuôi dưỡng để lấy sức kéo, làm thực phẩm, giữ nhà hoặc làm bạn. Điều 603 Bộ luật Dân sự 2015 dùng thuật ngữ này nhưng không giải thích nội hàm.

Pháp luật hiện hành chưa quy định cụ thể khái niệm súc vật, nên có thể dựa vào định nghĩa vật nuôi tại Luật Chăn nuôi 2018 để hiểu. Theo Luật này:
- Vật nuôi bao gồm gia súc, gia cầm và động vật khác trong chăn nuôi.
- Gia súc là các loài động vật có vú, có 04 chân được con người thuần hóa và chăn nuôi (trâu, bò, ngựa, lợn, dê, cừu…).
- Gia cầm là các loài động vật có 02 chân, có lông vũ, thuộc nhóm động vật có cánh được con người thuần hóa và chăn nuôi (gà, vịt, ngan, ngỗng…).
- Chó, mèo về mặt kỹ thuật không phải gia súc mà thuộc nhóm “động vật khác”, nhưng vẫn là vật nuôi và là đối tượng phổ biến nhất khi áp dụng Điều 603.
Lưu ý: Súc vật là tài sản (động sản) thuộc quyền sở hữu của một người. Vì vậy trách nhiệm bồi thường do súc vật gây ra được xếp vào nhóm “bồi thường thiệt hại do tài sản gây ra”, gắn với chủ sở hữu hoặc người quản lý, không phải trách nhiệm của chính con vật.
Ai phải bồi thường khi súc vật gây thiệt hại?
Theo khoản 1 Điều 603 Bộ luật Dân sự 2015, có hai nhóm chủ thể:
- Chủ sở hữu súc vật: phải bồi thường thiệt hại do súc vật gây ra cho người khác.
- Người chiếm hữu, sử dụng súc vật: phải bồi thường thiệt hại trong thời gian chiếm hữu, sử dụng súc vật, trừ trường hợp có thỏa thuận khác. Ví dụ: người thuê trâu cày ruộng, người được nhờ trông chó, người mượn ngựa để chở hàng.
Điểm quan trọng: trách nhiệm này không đòi hỏi chủ phải có hành vi sai trái. Chỉ cần súc vật gây thiệt hại và thiệt hại có quan hệ nhân quả với hoạt động của con vật là phát sinh nghĩa vụ bồi thường, trừ các trường hợp được loại trừ (xem mục 4).
Ví dụ: Ông A nuôi một con chó lớn, ra cổng thì con chó lao ra cắn chị B đi đường, chị B phải điều trị vết thương. Ông A là chủ sở hữu nên phải bồi thường cho chị B, dù ông không cố ý. Nếu ông A đã giao chó cho anh C trông giữ trong tuần đó và chó cắn người trong thời gian này, anh C là người chiếm hữu nên phải bồi thường, trừ khi ông A và anh C có thỏa thuận khác.
Trường hợp người trực tiếp chăn dắt, quản lý súc vật là người chưa thành niên, cha mẹ hoặc người giám hộ thường là người phải thực hiện nghĩa vụ bồi thường, vì họ là chủ sở hữu hoặc là người đại diện theo pháp luật. Việc xác định cụ thể phụ thuộc vào ai là chủ sở hữu và ai có lỗi trong quản lý.
Các trường hợp cụ thể theo Điều 603
Người thứ ba có lỗi làm súc vật gây thiệt hại
Nếu người thứ ba hoàn toàn có lỗi làm cho súc vật gây thiệt hại thì người thứ ba phải bồi thường; nếu người thứ ba và chủ sở hữu cùng có lỗi thì phải liên đới bồi thường. Người thứ ba ở đây không phải chủ sở hữu hay người chiếm hữu, sử dụng súc vật, mà là người có hành vi kích động, tác động làm súc vật gây thiệt hại.
Ví dụ: Một thanh niên cố tình ném đá, trêu chọc con chó đang buộc trong sân khiến nó giật dây lao ra cắn người qua đường. Thanh niên này là người thứ ba có lỗi. Nếu chủ chó còn buộc dây quá lỏng, hai bên cùng có lỗi và liên đới bồi thường.
Súc vật bị chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật
Khi súc vật bị chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật gây thiệt hại thì người chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật phải bồi thường; nếu chủ sở hữu hoặc người chiếm hữu, sử dụng hợp pháp có lỗi để súc vật bị chiếm hữu trái pháp luật thì phải liên đới bồi thường. Ví dụ: kẻ trộm dắt trâu đi, trâu húc người trên đường; kẻ trộm chịu trách nhiệm chính, còn chủ trâu chỉ liên đới nếu để mất trâu do lỗi của mình (chuồng không khóa, thả đi nơi vắng nhiều ngày…).
Súc vật thả rông theo tập quán
Trường hợp súc vật thả rông theo tập quán mà gây thiệt hại thì chủ sở hữu phải bồi thường theo tập quán, nhưng tập quán đó không được trái pháp luật, đạo đức xã hội. Quy định này thường gặp ở vùng nông thôn, miền núi có tập quán thả trâu, bò, dê ăn cỏ. Ở đô thị và nơi công cộng, việc thả rông có thể còn bị xử phạt hành chính (xem mục 6).
Khi nào chủ súc vật không phải bồi thường?
Điều 603 cần đọc cùng nguyên tắc chung tại Điều 584 Bộ luật Dân sự 2015. Theo đó, người gây thiệt hại không phải bồi thường nếu thiệt hại xảy ra:
- Hoàn toàn do lỗi của người bị thiệt hại. Ví dụ: người đó tự ý trèo rào vào chuồng, đánh đập, chọc phá con vật nên bị húc hoặc cắn.
- Do sự kiện bất khả kháng (sự kiện khách quan không thể lường trước và không thể khắc phục dù đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết và khả năng cho phép), trừ khi luật có quy định khác hoặc các bên có thỏa thuận khác.
Nếu người bị thiệt hại chỉ có một phần lỗi, mức bồi thường được giảm tương ứng với phần lỗi của họ. Bên cạnh đó, người phải bồi thường nếu không có lỗi hoặc chỉ có lỗi vô ý và thiệt hại quá lớn so với khả năng kinh tế của mình thì có thể được xem xét giảm mức bồi thường.
Lưu ý: Người cho rằng mình được miễn trách nhiệm phải đưa ra chứng cứ chứng minh (lời khai nhân chứng, camera, tin nhắn, biên bản của chính quyền địa phương…). Nên lưu giữ chứng cứ ngay khi sự việc xảy ra.
Thiệt hại nào được bồi thường và mức bồi thường
Nguyên tắc chung: thiệt hại thực tế phải được bồi thường toàn bộ và kịp thời; các bên có thể tự thỏa thuận mức bồi thường, hình thức bồi thường (bằng tiền, hiện vật hoặc công việc), bồi thường một lần hoặc nhiều lần.
| Loại thiệt hại | Khoản được yêu cầu bồi thường (tóm lược) |
|---|---|
| Tài sản bị hư hỏng, mất mát (hoa màu, vật nuôi khác, xe cộ…) | Tài sản bị mất, bị hủy hoại hoặc hư hỏng; lợi ích gắn liền với việc sử dụng, khai thác tài sản; chi phí hợp lý để ngăn chặn, hạn chế và khắc phục thiệt hại (Điều 589). |
| Sức khỏe bị xâm phạm (bị cắn, húc, đá…) | Chi phí cứu chữa, phục hồi sức khỏe; thu nhập thực tế bị mất hoặc giảm sút; chi phí hợp lý cho người chăm sóc; tiền bù đắp tổn thất tinh thần (Điều 590). |
| Tính mạng bị xâm phạm | Chi phí cứu chữa trước khi chết; chi phí mai táng; tiền cấp dưỡng cho người mà nạn nhân có nghĩa vụ cấp dưỡng; tiền bù đắp tổn thất tinh thần cho người thân (Điều 591). |
Về tổn thất tinh thần, nếu các bên không thỏa thuận được thì mức tối đa là không quá 50 lần mức lương cơ sở khi sức khỏe bị xâm phạm, và không quá 100 lần mức lương cơ sở khi tính mạng bị xâm phạm, tính theo mức lương cơ sở tại thời điểm giải quyết bồi thường. Mức lương cơ sở hiện nay là 2.530.000 đồng/tháng, áp dụng từ ngày 01/7/2026 theo Nghị định 161/2026/NĐ-CP. Như vậy, trần tổn thất tinh thần hiện tương ứng khoảng 126,5 triệu đồng (sức khỏe) và 253 triệu đồng (tính mạng) nếu giải quyết sau thời điểm này.
Nếu hai bên thỏa thuận bồi thường trả dần, nên lập văn bản ghi rõ số tiền, thời hạn, cách thanh toán. Bạn có thể tham khảo cách trình bày giấy tờ viết tay tại bài mẫu giấy ghi nợ viết tay mới nhất để thấy các nội dung cần có của một văn bản thỏa thuận về nghĩa vụ trả tiền.
Ngoài bồi thường dân sự: phạt hành chính, hình sự
Xử phạt hành chính khi thả rông vật nuôi
Từ 15/12/2025, Nghị định 282/2025/NĐ-CP thay thế Nghị định 144/2021/NĐ-CP trong lĩnh vực an ninh, trật tự. Theo Điều 8 Nghị định này, người thả rông chó, mèo hoặc động vật nuôi khác trong đô thị, nơi công cộng có thể bị phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng. Với tổ chức có cùng hành vi vi phạm, mức phạt tiền gấp 02 lần mức phạt đối với cá nhân. Thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực này là 01 năm.
Trường hợp chó, mèo thả rông gây thương tích hoặc thiệt hại tài sản mà chưa đến mức truy cứu hình sự, mức phạt hành chính cao hơn đáng kể; theo phản ánh của báo chí, chủ nuôi có thể bị phạt 2–3 triệu đồng và vẫn phải bồi thường dân sự. Bạn nên đối chiếu văn bản gốc để biết chính xác khoản, điểm áp dụng.
Cảnh báo: Bị xử phạt hành chính không thay thế nghĩa vụ bồi thường. Hai trách nhiệm tồn tại độc lập: nộp phạt cho Nhà nước và bồi thường cho người bị hại.
Trách nhiệm hình sự
Nếu hậu quả nghiêm trọng, chủ nuôi hoặc người điều khiển súc vật có thể bị xem xét theo Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017, 2025), tùy lỗi và mức độ:
- Cố ý xúi, thả chó, trâu, bò… tấn công người khác: có thể bị xem xét tội cố ý gây thương tích (Điều 134) hoặc tội giết người (Điều 123) nếu có ý thức tước đoạt tính mạng.
- Vô ý để súc vật gây thương tích nặng hoặc làm chết người: có thể bị xem xét tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe (Điều 138) hoặc tội vô ý làm chết người (Điều 128).
Việc có truy cứu hình sự hay không do cơ quan tiến hành tố tụng quyết định dựa trên tỷ lệ tổn thương cơ thể, hành vi và lỗi của người liên quan. Phần bồi thường dân sự có thể được giải quyết ngay trong vụ án hình sự.
Về phía người bị tấn công, quyền được bảo vệ sức khỏe, thân thể là quyền cơ bản; bạn có thể tìm hiểu thêm tại bài quyền bất khả xâm phạm về thân thể của công dân. Trong tình huống bị súc vật hung dữ tấn công, việc phòng vệ chỉ nên ở mức cần thiết; nếu muốn mang theo công cụ tự vệ, cần biết rõ loại nào bị hạn chế, ví dụ qua các bài về bình xịt hơi cay tự vệ và mang vũ khí nào để tự vệ mà không vi phạm pháp luật.
Cách yêu cầu bồi thường

- Bước 1: Sơ cứu, ghi nhận hiện trường. Đưa nạn nhân đi cấp cứu; chụp ảnh vết thương, tài sản hư hỏng, vị trí xảy ra sự việc, ghi tên nhân chứng, giữ hóa đơn thuốc, viện phí.
- Bước 2: Xác định người chịu trách nhiệm. Xác định chủ sở hữu, người đang trông giữ, người thứ ba (nếu có) và lỗi của từng người.
- Bước 3: Thương lượng. Hai bên thỏa thuận mức bồi thường, hình thức và thời hạn; nên lập văn bản có chữ ký. Có thể nhờ tổ hòa giải ở cơ sở hoặc UBND cấp xã nơi xảy ra sự việc hỗ trợ hòa giải.
- Bước 4: Báo công an khi cần. Nếu có thương tích nặng, tử vong hoặc dấu hiệu cố ý, trình báo Công an cấp xã hoặc cơ quan công an có thẩm quyền để xem xét xử lý.
- Bước 5: Khởi kiện tại Tòa án. Nếu không thỏa thuận được, nộp đơn khởi kiện đến Tòa án nhân dân khu vực có thẩm quyền (thường nơi bị đơn cư trú, làm việc) – mô hình tòa án cấp khu vực áp dụng từ 01/07/2025. Thời hiệu khởi kiện yêu cầu bồi thường ngoài hợp đồng là 03 năm kể từ ngày người có quyền yêu cầu biết quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm. Án phí tính theo Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14.
Lưu ý: Sau khi sắp xếp đơn vị hành chính, chính quyền địa phương chỉ còn hai cấp (tỉnh và xã/phường), không còn cấp huyện. Việc hòa giải, xác nhận sự việc ở cơ sở nay do UBND cấp xã thực hiện.
Câu hỏi thường gặp
Súc vật là gì, có gồm chó và mèo không?
Luật không định nghĩa riêng, nhưng “súc vật” được hiểu là vật nuôi. Chó, mèo là vật nuôi thuộc nhóm “động vật khác” theo Luật Chăn nuôi 2018 nên khi gây thiệt hại vẫn áp dụng Điều 603 Bộ luật Dân sự.
Chó nhà tôi cắn người, tôi phải bồi thường những gì?
Bạn là chủ sở hữu nên phải bồi thường thiệt hại thực tế: chi phí khám chữa, tiêm phòng, thu nhập bị mất, chi phí người chăm sóc và có thể cả tiền bù đắp tổn thất tinh thần. Mức cụ thể do hai bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định.
Ai bồi thường nếu súc vật đang cho người khác mượn hoặc thuê?
Người đang chiếm hữu, sử dụng súc vật phải bồi thường trong thời gian chiếm hữu, sử dụng, trừ khi chủ và người đó có thỏa thuận khác. Nếu chủ có lỗi (ví dụ biết con vật hung dữ mà không cảnh báo), chủ vẫn có thể phải chịu trách nhiệm tương ứng.
Bị trêu chọc mà chó cắn người thì ai chịu trách nhiệm?
Người trêu chọc, kích động là người thứ ba có lỗi và phải bồi thường. Nếu chủ chó cũng có lỗi (không buộc, không rọ mõm, không cảnh báo) thì hai bên liên đới bồi thường.
Thả rông chó, mèo ra đường bị phạt bao nhiêu?
Theo Nghị định 282/2025/NĐ-CP (hiệu lực từ 15/12/2025), cá nhân thả rông động vật nuôi trong đô thị hoặc nơi công cộng bị phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 500.000 đến 1.000.000 đồng; tổ chức bị phạt gấp đôi.
Tôi có thể đòi bồi thường trong bao lâu?
Thời hiệu khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là 03 năm, tính từ ngày người bị thiệt hại biết quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm. Bạn nên thu thập chứng cứ và thương lượng sớm.
Căn cứ pháp lý
- Bộ luật Dân sự 2015: Điều 584, 585, 588, 589, 590, 591, 603.
- Luật Chăn nuôi 2018 (Điều 2 – giải thích từ ngữ: vật nuôi, gia súc, gia cầm).
- Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017, 2025): Điều 123, 128, 134, 138.
- Nghị định 282/2025/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng, chống bạo lực gia đình (hiệu lực từ 15/12/2025).
- Nghị định 161/2026/NĐ-CP về mức lương cơ sở (hiệu lực từ 01/07/2026).
- Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Tòa án.
Tóm lại, “súc vật” là vật nuôi thuộc sở hữu hoặc sự quản lý của một người, và người đó phải chịu trách nhiệm khi con vật gây hại cho người khác. Trách nhiệm có thể chuyển sang người thứ ba hoặc được miễn nếu người bị thiệt hại hoàn toàn có lỗi, đồng thời chủ nuôi còn có thể bị xử phạt hành chính hoặc hình sự tùy hậu quả. Thông tin cập nhật tháng 10/2026.











