Người bị buộc tội có phải là tội phạm không? Quy định 2026

Biên soạn:

· Cập nhật:

Người bị buộc tội có phải là tội phạm không? Quy định 2026

Không. Người bị buộc tội (gồm người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo) chưa bị coi là người phạm tội. Theo nguyên tắc suy đoán vô tội tại Điều 13 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, họ được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo đúng trình tự luật định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật.

Tóm tắt nhanh

  • “Người bị buộc tội” gồm: người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo (điểm đ khoản 1 Điều 4 BLTTHS 2015).
  • Bị buộc tội không đồng nghĩa với phạm tội. Chỉ khi bản án kết tội có hiệu lực pháp luật thì người đó mới là “người bị kết án”.
  • Người bị buộc tội có quyền không phải chứng minh mình vô tội; trách nhiệm chứng minh thuộc về cơ quan tiến hành tố tụng.
  • Mọi nghi ngờ chưa được loại trừ phải được giải thích theo hướng có lợi cho người bị buộc tội.

Người bị buộc tội là gì?

Điểm đ khoản 1 Điều 4 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 (BLTTHS) giải thích: người bị buộc tội gồm người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo. Đây là cách gọi chung cho người đang bị cơ quan có thẩm quyền áp dụng một quyết định tố tụng vì bị nghi thực hiện hành vi phạm tội, như lệnh bắt, quyết định tạm giữ, quyết định khởi tố bị can hoặc quyết định đưa vụ án ra xét xử.

Tóm tắt nhanh: Người bị buộc tội có phải là tội phạm không? Quy định 2026
Tóm tắt nhanh – Người bị buộc tội có phải là tội phạm không? Quy định 2026

Người bị buộc tội có thể là cá nhân hoặc pháp nhân thương mại. Với pháp nhân thương mại, quyền và nghĩa vụ tố tụng được thực hiện thông qua người đại diện theo pháp luật.

Lưu ý: Điều 4 không liệt kê riêng “người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp”. Tuy vậy, Điều 58 BLTTHS vẫn quy định quyền của người bị giữ khẩn cấp cùng với người bị bắt, nên trong thực tế họ được bảo đảm các quyền như người bị buộc tội.

Bị buộc tội có được xem là tội phạm không?

Câu trả lời là không. Có ba điểm cần nắm:

  • Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật Hình sự (Điều 8 BLHS 2015). Đây là khái niệm về hành vi, không phải tên gọi của một con người.
  • Buộc tội là hoạt động của cơ quan tiến hành tố tụng nhằm xác định một người có thực hiện hành vi đó hay không. Kết luận này có thể đúng hoặc sai, nên pháp luật phải có cơ chế kiểm soát.
  • Kết tội chỉ do Tòa án thực hiện bằng bản án. Bản án phải có hiệu lực pháp luật thì người bị buộc tội mới trở thành người bị kết án.

Điều 13 BLTTHS 2015 viết rõ: người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự, thủ tục của Bộ luật này và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật. Nguyên tắc này bắt nguồn từ Hiến pháp 2013 và được cụ thể hóa trong luật tố tụng.

Ví dụ: Anh A bị khởi tố bị can về tội trộm cắp tài sản, sau đó bị Tòa án cấp sơ thẩm tuyên có tội. Anh A kháng cáo. Vì bản án sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật nên về mặt pháp lý, anh vẫn là bị cáo và vẫn được suy đoán là không có tội. Chỉ khi bản án có hiệu lực (do hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị hoặc do Tòa phúc thẩm tuyên) thì anh mới là người bị kết án.

Tên gọi theo từng giai đoạn tố tụng

Cùng một người nhưng tên gọi và quyền, nghĩa vụ thay đổi theo giai đoạn của vụ án:

Giai đoạn Tên gọi Căn cứ phát sinh tư cách Đã bị coi là có tội?
Giữ khẩn cấp, bắt Người bị giữ khẩn cấp, người bị bắt Lệnh/quyết định giữ, bắt theo luật định Chưa
Tạm giữ Người bị tạm giữ Quyết định tạm giữ Chưa
Điều tra, truy tố Bị can Quyết định khởi tố bị can Chưa
Xét xử Bị cáo Quyết định đưa vụ án ra xét xử của Tòa án Chưa (kể cả khi đã có bản án sơ thẩm nhưng chưa có hiệu lực)
Sau khi bản án có hiệu lực Người bị kết án; nếu có quyết định thi hành án thì là người chấp hành án Bản án kết tội có hiệu lực pháp luật Đã bị kết tội

Phân biệt người bị buộc tội với các khái niệm dễ nhầm

Người bị buộc tội khác người bị tố giác, bị kiến nghị khởi tố thế nào?

Người bị tố giác hoặc bị kiến nghị khởi tố (Điều 57 BLTTHS) chỉ mới bị nêu thông tin về hành vi có dấu hiệu tội phạm, chưa có quyết định tố tụng nhằm vào họ. Họ có quyền riêng nhưng chưa phải là người bị buộc tội.

Bị can và bị cáo khác nhau ở đâu?

Bị can là người hoặc pháp nhân bị khởi tố về hình sự. Bị cáo là người hoặc pháp nhân đã bị Tòa án quyết định đưa ra xét xử. Điểm phân chia là quyết định đưa vụ án ra xét xử.

Người bị buộc tội khác người bị kết án thế nào?

Người bị buộc tội được suy đoán là không có tội. Người bị kết án là người đã có bản án kết tội có hiệu lực, phải chấp hành hình phạt và các nghĩa vụ trong bản án.

Người bị hại, nhân chứng có phải người bị buộc tội không?

Không. Người bị hại, người làm chứng, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là những người tham gia tố tụng khác, không thuộc nhóm bị buộc tội.

Quyền của người bị buộc tội

Quyền của từng đối tượng được quy định tại Điều 58 (người bị giữ khẩn cấp, người bị bắt), Điều 59 (người bị tạm giữ), Điều 60 (bị can) và Điều 61 (bị cáo) BLTTHS 2015. Các quyền chính gồm:

  • Được biết lý do bị giữ, bắt, tạm giữ, khởi tố hoặc xét xử và được giải thích quyền, nghĩa vụ của mình.
  • Quyền trình bày lời khai, trình bày ý kiến; không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội. Đây là nội dung thường được gọi là “quyền im lặng”, dù luật không đặt tên riêng như vậy.
  • Quyền bào chữa: tự bào chữa hoặc nhờ người bào chữa. Với người dưới 18 tuổi, nếu không có người bào chữa thì cơ quan có thẩm quyền phải chỉ định người bào chữa.
  • Quyền đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật và đưa ra yêu cầu; quyền tranh tụng bình đẳng tại phiên tòa.
  • Quyền khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng mà mình cho là trái pháp luật.
  • Quyền được bảo vệ về thân thể, danh dự, nhân phẩm; cấm tra tấn, bức cung, nhục hình. Bạn có thể tìm hiểu thêm ở bài quyền bất khả xâm phạm về thân thể của công dân.

Lưu ý: Theo khoản 2 Điều 15 BLTTHS 2015, trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về cơ quan tiến hành tố tụng. Người bị buộc tội có quyền nhưng không buộc phải chứng minh mình vô tội. Lời nhận tội của bị can, bị cáo cũng không được dùng làm chứng cứ duy nhất để kết tội.

Khi không đủ căn cứ kết tội thì sao?

Điều 13 BLTTHS còn quy định hai hệ quả quan trọng:

Khi không đủ căn cứ kết tội thì sao? (2 bước) – Người bị buộc tội có phải là tội phạm không? Quy định 2026
Sơ đồ: Khi không đủ căn cứ kết tội thì sao?
  1. Nghi ngờ phải có lợi cho người bị buộc tội: mọi nghi ngờ về tội của người bị buộc tội, nếu không được loại trừ theo trình tự luật định, phải được giải thích theo hướng có lợi cho họ.
  2. Không đủ căn cứ thì kết luận không có tội: khi không đủ và không thể làm sáng tỏ căn cứ để buộc tội, kết tội, cơ quan và người có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải kết luận người bị buộc tội không có tội.

Nếu một người bị khởi tố, tạm giam hoặc xét xử nhưng sau đó được xác định là không có tội, họ có thể được xem xét bồi thường thiệt hại và khôi phục danh dự theo Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước 2017.

Cảnh báo: Suy đoán vô tội không có nghĩa là mọi hành vi vi phạm đều được bỏ qua. Nếu có đủ chứng cứ hợp pháp, Tòa án sẽ tuyên bản án kết tội và người đó phải chịu hình phạt. Ngay cả khi chưa bị kết án, hành vi vi phạm hành chính vẫn có thể bị xử phạt theo quy định riêng.

Cập nhật mới sau năm 2025

Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của BLTTHS được Quốc hội thông qua ngày 27/06/2025 và có hiệu lực từ 01/07/2025. Nội dung sửa đổi tập trung vào sắp xếp bộ máy: Cơ quan điều tra từ 3 cấp còn 2 cấp (Bộ, tỉnh), Viện kiểm sát và Tòa án từ 4 cấp còn 3 cấp (Tối cao, tỉnh, khu vực), đồng thời cho phép Trưởng công an xã, Phó trưởng công an xã thực hiện một số nhiệm vụ điều tra sơ bộ với vụ án ít nghiêm trọng ở cấp xã.

Vì vậy, nơi giải quyết vụ án và cơ quan bạn làm việc đã thay đổi so với trước, nhưng nguyên tắc suy đoán vô tội và các quyền cơ bản của người bị buộc tội vẫn là nền tảng của tố tụng hình sự. Trước khi áp dụng vào một vụ việc cụ thể, bạn nên đối chiếu văn bản hiện hành tại thời điểm xảy ra vụ việc.

Một số hành vi như trồng cây có chứa chất ma túy, sử dụng chất kích thích hay mang công cụ hỗ trợ trái phép có thể chỉ bị xử phạt hành chính hoặc bị truy cứu hình sự tùy tính chất, mức độ. Bạn có thể tham khảo thêm các bài trồng bao nhiêu cây cần sa thì bị xử lý, sử dụng bóng cười có vi phạm không và mang vũ khí tự vệ như thế nào để không vi phạm.

Về lý luận, nguyên tắc suy đoán vô tội gắn với việc Nhà nước phải bảo đảm quyền con người trong hoạt động tư pháp. Nếu muốn hiểu rộng hơn về vai trò của Nhà nước, bạn có thể đọc bài bản chất của Nhà nước là gì.

Thông tin cập nhật tháng 10/2026. Bài viết mang tính tham khảo, không thay thế văn bản pháp luật hiện hành.

Câu hỏi thường gặp

Người bị buộc tội gồm những ai?

Theo điểm đ khoản 1 Điều 4 BLTTHS 2015, gồm người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can và bị cáo. Người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp không được nêu riêng ở Điều 4 nhưng vẫn được bảo đảm quyền theo Điều 58.

Bị khởi tố bị can có phải là đã bị coi là tội phạm không?

Không. Khởi tố bị can chỉ là quyết định tố tụng để điều tra, xác minh. Người đó vẫn được coi là không có tội cho đến khi có bản án kết tội đã có hiệu lực pháp luật.

Bị cáo đã bị Tòa sơ thẩm tuyên án thì có còn được suy đoán vô tội không?

Có, nếu bản án chưa có hiệu lực pháp luật, chẳng hạn đang trong thời hạn kháng cáo, kháng nghị hoặc đã có kháng cáo, kháng nghị. Khi đó người này vẫn là bị cáo.

Người bị buộc tội có buộc phải chứng minh mình vô tội không?

Không. Trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về cơ quan tiến hành tố tụng. Người bị buộc tội có quyền đưa ra chứng cứ nhưng không bị bắt buộc phải làm vậy.

Người bị buộc tội có quyền im lặng không?

Luật không dùng cụm “quyền im lặng”, nhưng cho phép họ không phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội. Họ cũng có quyền trình bày ý kiến và nhờ người bào chữa.

Người bị kết án là ai?

Là người đã bị Tòa án tuyên bản án kết tội và bản án đó đã có hiệu lực pháp luật. Khi có quyết định thi hành án, họ được gọi là người chấp hành án.

Tóm lại, “người bị buộc tội” là tư cách tố tụng, không phải kết luận về tội lỗi. Chỉ bản án kết tội đã có hiệu lực của Tòa án mới xác định một người là người phạm tội. Nắm rõ khác biệt giữa bị can, bị cáo và người bị kết án sẽ giúp bạn hiểu đúng các thông tin về vụ án hình sự và các quyền mà luật bảo đảm cho mỗi người.

Lưu ý: Nội dung bài viết mang tính chất tham khảo, được biên soạn theo quy định pháp luật tại thời điểm cập nhật. Với vụ việc cụ thể, bạn nên liên hệ cơ quan có thẩm quyền hoặc luật sư để được hướng dẫn chính xác. Xem miễn trừ trách nhiệm.

Ban biên tập Luật Sư X

Có thể bạn quan tâm

Xem tất cả →