Khoản 2 đi tù bao nhiêu năm? Cố ý gây thương tích Điều 134 (2026)

Biên soạn:

· Cập nhật:

Khoản 2 đi tù bao nhiêu năm? Cố ý gây thương tích Điều 134 (2026)

Phạm tội cố ý gây thương tích thuộc khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự thì bị phạt tù từ 02 năm đến 06 năm. Khung này áp dụng khi nạn nhân có tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%, hoặc gây thương tích cho 02 người trở lên, phạm tội 02 lần trở lên, tái phạm nguy hiểm, hoặc có tình tiết tăng nặng kèm tỷ lệ 11%–30%.

Tóm tắt nhanh

  • Khoản 2 Điều 134 BLHS: phạt tù từ 02 năm đến 06 năm, không có hình phạt tiền hay cải tạo không giam giữ thay thế.
  • Có 5 trường hợp áp dụng: tỷ lệ 31%–60%; 02 người trở lên mỗi người 11%–30%; phạm tội 02 lần trở lên; tái phạm nguy hiểm; tỷ lệ 11%–30% nhưng có tình tiết tăng nặng ở khoản 1.
  • Mức án cụ thể do Tòa án quyết định theo tính chất, hậu quả, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng.
  • Đây là tội phạm nghiêm trọng; người phạm tội còn phải bồi thường thiệt hại cho nạn nhân.
  • Chưa đủ mức hình sự thì vẫn có thể bị phạt hành chính 6–8 triệu đồng theo Nghị định 282/2025/NĐ-CP.

Khoản 2 Điều 134 BLHS quy định gì?

Điều 134 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác. Điều luật chia hình phạt thành nhiều khung theo tỷ lệ tổn thương cơ thể của nạn nhân và các tình tiết đi kèm. Khoản 2 là khung nặng hơn khoản 1 và nhẹ hơn khoản 3.

Theo khoản 2, người phạm tội thuộc một trong các trường hợp luật liệt kê thì bị phạt tù từ 02 năm đến 06 năm. Khác với khoản 1, khoản 2 không cho phép Tòa án chọn cải tạo không giam giữ. Hình phạt chính bắt buộc là phạt tù.

Lưu ý: Theo các văn bản đối chiếu đến tháng 10/2026, nội dung khung hình phạt ở khoản 2 vẫn là nội dung của bản sửa đổi năm 2017. Các đợt sửa đổi BLHS sau đó (Luật Tư pháp người chưa thành niên 2024, Luật số 86/2025/QH15) không làm thay đổi mức 02–06 năm này. Khi áp dụng cho một vụ việc cụ thể, bạn cần đối chiếu văn bản hợp nhất mới nhất.

Các trường hợp bị phạt tù 2–6 năm

Khoản 2 Điều 134 gồm 5 trường hợp. Chỉ cần thuộc một trong số đó là đủ để áp dụng khung 02–06 năm tù.

Trường hợp Nội dung
Điểm a Gây thương tích hoặc tổn hại sức khỏe cho một người với tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%
Điểm b Gây thương tích cho 02 người trở lên, tỷ lệ của mỗi người từ 11% đến 30%
Điểm c Phạm tội 02 lần trở lên
Điểm d Tái phạm nguy hiểm
Điểm đ Tỷ lệ tổn thương từ 11% đến 30% nhưng thuộc một trong các trường hợp từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều 134

Tỷ lệ tổn thương 31%–60% (điểm a)

Đây là trường hợp phổ biến nhất. Nạn nhân bị gãy xương, tổn thương nội tạng hoặc để lại di chứng đến mức tỷ lệ tổn thương cơ thể được giám định trong khoảng 31%–60%. Người gây thương tích bị áp dụng khoản 2 dù không dùng hung khí.

Gây thương tích cho 02 người trở lên (điểm b)

Khi một hành vi gây thương tích cho từ 02 người trở lên và mỗi người có tỷ lệ từ 11% đến 30%, hậu quả được coi là nghiêm trọng hơn nên chuyển sang khung 02–06 năm. Nếu mỗi người bị thương dưới 11% thì thường chưa đủ cấu thành, trừ khi có tình tiết tăng nặng ở khoản 1.

Phạm tội 02 lần trở lên, tái phạm nguy hiểm (điểm c, d)

“Phạm tội 02 lần trở lên” là mỗi lần gây thương tích đều đã đủ yếu tố cấu thành tội phạm, chưa hết thời hiệu và chưa bị xét xử. Tái phạm nguy hiểm được xác định theo Điều 53 BLHS, chẳng hạn người đã bị kết án về tội rất nghiêm trọng do cố ý, chưa được xóa án tích mà lại phạm tội cố ý.

Tỷ lệ 11%–30% kèm tình tiết tăng nặng ở khoản 1 (điểm đ)

Các tình tiết từ điểm a đến điểm k khoản 1 gồm, chẳng hạn: dùng vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm hoặc thủ đoạn có khả năng gây nguy hại cho nhiều người; dùng a-xít nguy hiểm hoặc hóa chất nguy hiểm; thuê gây thương tích hoặc được thuê; có tính chất côn đồ; đối với người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân. Vì vậy, một cú chém bằng dao gây thương tích 20% đã đủ để rơi vào khoản 2 thay vì khoản 1.

Việc dùng công cụ, vật dụng nào được coi là hung khí còn phụ thuộc đánh giá của cơ quan tiến hành tố tụng. Bạn có thể tham khảo thêm về ranh giới giữa công cụ tự vệ và vũ khí trong bài mang vũ khí nào để tự vệ mà không vi phạm pháp luật và bài về bình xịt hơi cay tự vệ có bị cấm không.

Thực tế khoản 2 đi tù bao nhiêu năm?

Khung luật là 02–06 năm, nhưng mức án thực tế do Tòa án quyết định trong từng vụ. Tòa án căn cứ Điều 50 BLHS (tính chất, mức độ nguy hiểm, nhân thân, tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng). Một số yếu tố thường ảnh hưởng đến mức án:

  • Tình tiết giảm nhẹ (Điều 51): thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tự nguyện bồi thường, khắc phục hậu quả, được bị hại tha thứ, phạm tội lần đầu ít nghiêm trọng về nhân thân, bị kích động về tinh thần do hành vi trái pháp luật của nạn nhân.
  • Tình tiết tăng nặng (Điều 52): có tổ chức, côn đồ, xúc phạm người già, trẻ em, phạm tội dã man, tái phạm.
  • Vai trò trong vụ án đồng phạm: người chủ mưu, người trực tiếp gây thương tích thường bị mức án cao hơn người giúp sức.
  • Hậu quả sau này: tỷ lệ tổn thương, di chứng, khả năng phục hồi của nạn nhân.

Có thể được xử dưới 02 năm tù không?

Có. Theo Điều 54 BLHS, nếu người phạm tội có ít nhất 02 tình tiết giảm nhẹ ở khoản 1 Điều 51, Tòa án có thể tuyên mức dưới mức thấp nhất của khung nhưng phải nằm trong khung liền kề nhẹ hơn, tức khung ở khoản 1 Điều 134. Đây là quyền quyết định của Tòa án, không phải mặc nhiên.

Khoản 2 Điều 134 có được hưởng án treo không?

Có thể, nhưng hẹp. Theo Điều 65 BLHS và hướng dẫn của Hội đồng Thẩm phán TANDTC (Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP), án treo chỉ xem xét khi mức phạt tù tuyên không quá 03 năm, người phạm tội có nhân thân tốt, có tình tiết giảm nhẹ và không cần thiết phải cách ly khỏi xã hội. Với khoản 2, mức thấp nhất là 02 năm nên án treo chủ yếu xảy ra khi bị cáo chỉ bị tuyên ở đầu khung hoặc được giảm xuống dưới khung theo Điều 54. Vụ việc dùng hung khí, côn đồ, có tổ chức rất khó được hưởng án treo.

Cảnh báo: Mọi con số trong bài chỉ là khung pháp luật, không phải dự đoán mức án của một vụ việc cụ thể. Kết quả cuối cùng phụ thuộc hồ sơ vụ án và quyết định của Tòa án.

So sánh các khung hình phạt của Điều 134

Để hiểu khoản 2 nằm ở đâu trong tổng thể, bạn có thể xem bảng dưới đây. Mức nặng nhất của từng khung cũng quyết định loại tội phạm theo Điều 9 BLHS.

Khoản Hình phạt Dấu hiệu chính Loại tội phạm
Khoản 1 Cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc tù 06 tháng – 03 năm Tỷ lệ 11%–30%, hoặc dưới 11% nhưng có tình tiết ở khoản 1 Ít nghiêm trọng
Khoản 2 Tù 02 – 06 năm 31%–60%; 02 người trở lên; phạm tội 02 lần; tái phạm nguy hiểm; 11%–30% có tình tiết tăng nặng Nghiêm trọng
Khoản 3 Tù 05 – 10 năm Từ 61% trở lên; hoặc 31%–60% kèm tình tiết tăng nặng; một số trường hợp 02 người trở lên Rất nghiêm trọng
Khoản 4 Tù 07 – 14 năm Làm chết người; hoặc tỷ lệ từ 61% trở lên kèm tình tiết tăng nặng và các trường hợp luật quy định Rất nghiêm trọng
Khoản 5 Tù 12 – 20 năm hoặc tù chung thân Làm chết 02 người trở lên; 02 người trở lên mỗi người từ 61% kèm tình tiết tăng nặng Đặc biệt nghiêm trọng
Khoản 6 Cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc tù 03 tháng – 02 năm Chuẩn bị vũ khí, hung khí, a-xít… hoặc thành lập, tham gia nhóm tội phạm nhằm gây thương tích —

Lưu ý: Cột dấu hiệu chỉ tóm lược. Số điểm, thứ tự điểm của từng khoản có thể khác nhau giữa các bản trích dẫn, nên khi cần chính xác bạn hãy đối chiếu văn bản hợp nhất Bộ luật Hình sự.

Những khung càng cao càng liên quan đến quyền được bảo vệ sức khỏe, tính mạng của công dân. Bạn có thể đọc thêm nền tảng hiến định tại bài quyền bất khả xâm phạm về thân thể của công dân.

Độ tuổi chịu trách nhiệm, thời hiệu và giám định tỷ lệ

Bao nhiêu tuổi thì bị truy cứu theo khoản 2?

Theo Điều 12 BLHS, người từ đủ 16 tuổi trở lên chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm. Người từ đủ 14 đến dưới 16 tuổi chỉ chịu trách nhiệm về tội rất nghiêm trọng do cố ý hoặc đặc biệt nghiêm trọng. Vì khoản 2 là tội nghiêm trọng, nên khung này chủ yếu áp dụng với người từ đủ 16 tuổi. Với người dưới 18 tuổi, vụ việc còn tuân theo Luật Tư pháp người chưa thành niên 2024 với nhiều chính sách riêng.

Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự

Theo Điều 27 BLHS, thời hiệu đối với tội nghiêm trọng là 10 năm kể từ ngày tội phạm được thực hiện. Đối với tội rất nghiêm trọng là 15 năm và đặc biệt nghiêm trọng là 20 năm.

Ai xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể?

Tỷ lệ tổn thương cơ thể do tổ chức giám định pháp y xác định, theo Thông tư 22/2019/TT-BYT của Bộ Y tế (hiệu lực từ 01/11/2019). Nguyên tắc cơ bản là tổng tỷ lệ của một người phải nhỏ hơn 100%, và mỗi bộ phận chỉ tính một lần. Tỷ lệ được xác định tại thời điểm giám định. Vì vậy kết luận giám định là chứng cứ quan trọng quyết định vụ việc rơi vào khoản 1, 2 hay 3.

Ngoài đi tù, phải bồi thường gì?

Người cố ý gây thương tích phải bồi thường thiệt hại về sức khỏe theo Điều 590 Bộ luật Dân sự 2015. Các khoản thường gặp gồm chi phí cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe; thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút; chi phí hợp lý cho người chăm sóc; và bồi thường tổn thất tinh thần. Khoản tổn thất tinh thần do các bên thỏa thuận, nếu không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định nhưng không quá 50 lần mức lương cơ sở.

Việc bồi thường tự nguyện, kịp thời còn là tình tiết giảm nhẹ có giá trị khi Tòa án quyết định hình phạt. Khác với khoản 1, vụ án ở khoản 2 không thuộc nhóm chỉ khởi tố khi có yêu cầu của bị hại, nên dù đã thỏa thuận bồi thường, cơ quan tiến hành tố tụng vẫn có thể tiếp tục giải quyết.

Chưa đủ mức hình sự thì xử lý thế nào?

Nếu hành vi đánh người chưa đủ dấu hiệu tội phạm (ví dụ tỷ lệ dưới 11% và không có tình tiết tăng nặng), người vi phạm vẫn có thể bị xử phạt hành chính. Theo Nghị định 282/2025/NĐ-CP (hiệu lực từ 15/12/2025), hành vi cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe người khác nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự bị phạt tiền từ 6.000.000 đồng đến 8.000.000 đồng (khoản 5 Điều 8). Người vi phạm còn có thể bị buộc chi trả chi phí khám bệnh, chữa bệnh cho nạn nhân. Đánh đập thành viên gia đình nhưng chưa đến mức hình sự có mức phạt riêng, từ 5.000.000 đến 10.000.000 đồng.

Trước đây, Nghị định 144/2021/NĐ-CP quy định mức phạt thấp hơn đối với hành vi này. Nghị định 144/2021 đã được thay thế bởi Nghị định 282/2025/NĐ-CP.

Ranh giới giữa vi phạm hành chính và tội phạm thường chỉ khác nhau ở một vài con số. Tương tự như vậy, nhiều hành vi khác cũng bị xử lý hình sự khi vượt ngưỡng định lượng, như được phân tích trong bài về trồng bao nhiêu cây cần sa thì bị bắt hay sử dụng bóng cười có vi phạm không.

Tình huống minh họa

Ví dụ giả định: Anh A và anh B xô xát tại quán nhậu. A dùng ghế đánh vào đầu B. Kết quả giám định cho thấy tỷ lệ tổn thương cơ thể của B là 24%. Nếu chỉ xét tỷ lệ, hành vi thuộc khoản 1. Tuy nhiên, nếu cơ quan tiến hành tố tụng xác định chiếc ghế được dùng như hung khí nguy hiểm, hoặc A có tính chất côn đồ vì xuất phát từ lý do nhỏ nhặt, thì A có thể bị truy cứu theo điểm đ khoản 2, mức tù từ 02 đến 06 năm. Khi xét xử, nếu A thành khẩn, bồi thường đầy đủ và được B có đơn xin giảm nhẹ, Tòa án sẽ cân nhắc các tình tiết này để quyết định mức án cụ thể.

Câu hỏi thường gặp

Khoản 2 Điều 134 đi tù bao nhiêu năm?

Khung hình phạt là từ 02 năm đến 06 năm tù. Mức cụ thể do Tòa án quyết định dựa trên tính chất vụ án, hậu quả, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng. Có thể tuyên dưới mức thấp nhất của khung nếu có đủ điều kiện theo Điều 54 BLHS.

Gây thương tích 31% đến 60% bị phạt bao nhiêu năm tù?

Nếu không có tình tiết tăng nặng ở khoản 1, người phạm tội bị áp dụng điểm a khoản 2 Điều 134, phạt tù 02–06 năm. Nếu có thêm một trong các tình tiết như dùng hung khí nguy hiểm hay có tính chất côn đồ thì chuyển sang khoản 3, mức 05–10 năm tù.

Khoản 2 Điều 134 có được hưởng án treo không?

Có thể nếu Tòa án tuyên mức phạt tù không quá 03 năm và bị cáo đủ các điều kiện của Điều 65 BLHS như nhân thân tốt, có tình tiết giảm nhẹ, không cần cách ly khỏi xã hội. Trường hợp dùng hung khí, côn đồ hoặc có tổ chức rất khó được hưởng án treo.

Bồi thường xong và bị hại làm đơn bãi nại thì có hết tội không?

Không đương nhiên. Khoản 2 Điều 134 không thuộc nhóm tội chỉ khởi tố khi có yêu cầu của bị hại. Việc bồi thường và đơn bãi nại là tình tiết giảm nhẹ quan trọng nhưng cơ quan tiến hành tố tụng vẫn có thể tiếp tục giải quyết vụ án.

Đánh người tỷ lệ thương tích dưới 11% có bị đi tù không?

Nếu không có tình tiết tăng nặng ở khoản 1 Điều 134, thường chỉ bị xử phạt hành chính 6–8 triệu đồng theo Nghị định 282/2025/NĐ-CP. Nếu có tình tiết như dùng hung khí, côn đồ, đối với người thi hành công vụ thì vẫn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự dù tỷ lệ dưới 11%.

Tỷ lệ tổn thương cơ thể do ai xác định?

Do tổ chức giám định pháp y thực hiện theo yêu cầu của cơ quan tiến hành tố tụng, áp dụng Thông tư 22/2019/TT-BYT. Kết luận giám định là chứng cứ để xác định hành vi thuộc khoản nào của Điều 134.

Tóm lại, khoản 2 Điều 134 BLHS là khung phạt tù từ 02 đến 06 năm, áp dụng khi hậu quả hoặc tình tiết của hành vi gây thương tích đã ở mức nghiêm trọng. Hiểu đúng tỷ lệ tổn thương, các tình tiết tăng nặng ở khoản 1 và cơ chế giảm nhẹ giúp bạn nhận ra vì sao cùng một hành vi đánh nhau lại có thể bị xử lý rất khác nhau, từ phạt hành chính đến án tù nhiều năm.

Lưu ý: Nội dung bài viết mang tính chất tham khảo, được biên soạn theo quy định pháp luật tại thời điểm cập nhật. Với vụ việc cụ thể, bạn nên liên hệ cơ quan có thẩm quyền hoặc luật sư để được hướng dẫn chính xác. Xem miễn trừ trách nhiệm.

Ban biên tập Luật Sư X

Có thể bạn quan tâm

Xem tất cả →