Theo Điều 123 Bộ luật Hình sự, người cố ý giết người bị phạt tù từ 7 năm đến 15 năm ở khung cơ bản. Nếu thuộc trường hợp nghiêm trọng hơn (giết 2 người trở lên, giết người dưới 16 tuổi, giết người có tính chất côn đồ, thuê giết người…), mức phạt là 12–20 năm tù, tù chung thân hoặc tử hình. Chỉ mới chuẩn bị giết người cũng bị phạt tù 1–5 năm.
Tóm tắt nhanh
- Khung cơ bản: phạt tù 7–15 năm.
- Khung tăng nặng: 12–20 năm, tù chung thân hoặc tử hình.
- Chuẩn bị phạm tội: phạt tù 1–5 năm; phạm tội chưa đạt vẫn bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
- Hình phạt bổ sung: có thể bị cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định, quản chế hoặc cấm cư trú từ 1–5 năm.
- Trách nhiệm dân sự: bồi thường chi phí mai táng, cấp dưỡng và tổn thất tinh thần (tối đa 100 lần lương cơ sở nếu không thỏa thuận được).
- Trường hợp nhẹ hơn: giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh (Điều 125) hoặc vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng (Điều 126).
Hành vi cố ý giết người là gì?
Giết người là hành vi cố ý tước đoạt tính mạng của người khác một cách trái pháp luật. Đây là tội xâm phạm tính mạng, được quy định tại Điều 123 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017, 2025). Một hành vi bị coi là tội giết người khi hội đủ các dấu hiệu sau:
- Hành vi khách quan: dùng vũ lực, vũ khí, hung khí, chất độc hoặc bất kỳ phương thức nào khác gây ra cái chết cho người khác. Hành vi có thể là hành động, cũng có thể là không hành động (ví dụ cố tình không cho người phụ thuộc ăn uống đến chết).
- Hậu quả và quan hệ nhân quả: nạn nhân chết và cái chết là hậu quả trực tiếp của hành vi.
- Lỗi cố ý: người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình có thể làm chết người, mong muốn hoặc để mặc cho hậu quả xảy ra. Cố ý trực tiếp hay cố ý gián tiếp đều bị xử lý theo Điều 123.
- Chủ thể: người có năng lực trách nhiệm hình sự và từ đủ 14 tuổi trở lên.
Điểm phân biệt quan trọng: nếu không có ý định gây chết người mà chỉ gây thương tích rồi nạn nhân tử vong, hành vi có thể bị xử lý theo tội khác (xem mục các trường hợp dễ nhầm bên dưới).
Cố ý giết người đi tù bao nhiêu năm?
Mức án phụ thuộc vào việc vụ án thuộc khung nào của Điều 123 và các tình tiết cụ thể. Bảng dưới đây tổng hợp theo luật hiện hành.
| Trường hợp | Căn cứ | Mức hình phạt chính |
|---|---|---|
| Giết người không thuộc các tình tiết tăng nặng định khung | Khoản 2 Điều 123 | Tù từ 7 năm đến 15 năm |
| Giết người thuộc một trong các trường hợp tăng nặng (giết 2 người trở lên, côn đồ, thuê giết người…) | Khoản 1 Điều 123 | Tù từ 12 năm đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình |
| Chuẩn bị phạm tội giết người | Khoản 3 Điều 123 | Tù từ 1 năm đến 5 năm |
| Giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh | Điều 125 | Tù từ 6 tháng đến 3 năm; từ 3 đến 7 năm nếu giết 2 người trở lên |
| Giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng | Điều 126 | Cải tạo không giam giữ đến 2 năm hoặc tù từ 3 tháng đến 2 năm; tù từ 2 đến 5 năm nếu 2 người trở lên |
Như vậy, trả lời trực tiếp cho câu hỏi “cố ý giết người đi tù bao nhiêu năm”: ít nhất 7 năm và nhiều nhất 15 năm tù nếu không có tình tiết định khung tăng nặng; còn nếu có, khung bắt đầu từ 12 năm và có thể lên đến tù chung thân hoặc tử hình. Mức cụ thể do Tòa án quyết định trong từng vụ án, sau khi xem xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng.
Khi nào bị phạt 12–20 năm, chung thân hoặc tử hình?
Khoản 1 Điều 123 liệt kê nhiều tình tiết định khung tăng nặng. Chỉ cần có một tình tiết, người phạm tội đã thuộc khung 12–20 năm, chung thân hoặc tử hình. Một số tình tiết tiêu biểu:
- Giết 2 người trở lên;
- Giết người dưới 16 tuổi;
- Giết phụ nữ mà biết là có thai;
- Giết người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân;
- Giết ông bà, cha mẹ, người nuôi dưỡng, thầy giáo, cô giáo của mình;
- Giết người để lấy bộ phận cơ thể, hoặc thực hiện tội phạm một cách man rợ;
- Dùng phương pháp có khả năng làm chết nhiều người;
- Thuê giết người hoặc giết người thuê;
- Có tính chất côn đồ, có tổ chức, tái phạm nguy hiểm hoặc vì động cơ đê hèn;
- Giết người để thực hiện hoặc che giấu tội phạm khác.
Lưu ý: Khi một tình tiết (ví dụ “có tính chất côn đồ”) đã là tình tiết định khung thì Tòa án không tính lại tình tiết đó là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự lần nữa (khoản 2 Điều 52 BLHS). Danh sách trên chỉ nêu các nhóm tình tiết chính; khi cần áp dụng cụ thể, bạn nên đối chiếu nguyên văn Điều 123.
Cần nhớ: tử hình và tù chung thân chỉ là mức cao nhất của khung, không phải mức mặc định. Tội giết người vẫn nằm trong nhóm các tội còn hình phạt tử hình sau đợt sửa đổi Bộ luật Hình sự có hiệu lực từ 01/07/2025. Đợt sửa đổi này chỉ bỏ tử hình ở 8 tội khác (như tham ô tài sản, nhận hối lộ, vận chuyển trái phép chất ma túy…), không bao gồm tội giết người.
Chuẩn bị giết người, giết người chưa đạt xử lý thế nào?
Chuẩn bị giết người có bị phạt tù không?
Có. Khác với phần lớn tội phạm khác, người chuẩn bị phạm tội giết người (tìm, tạo điều kiện, công cụ, phương tiện để giết người) vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự và bị phạt tù từ 1 năm đến 5 năm theo khoản 3 Điều 123.
Giết người chưa đạt bị phạt bao nhiêu năm?
Phạm tội chưa đạt là đã bắt đầu thực hiện hành vi giết người nhưng nạn nhân không chết vì nguyên nhân ngoài ý muốn của người phạm tội (ví dụ được cấp cứu kịp thời, bị người khác ngăn cản). Người phạm tội vẫn bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội giết người. Tòa án quyết định hình phạt theo khung của Điều 123 nhưng cân nhắc mức độ thực hiện ý định phạm tội và nguyên nhân khiến tội phạm không thực hiện được đến cùng, nên mức án thường nhẹ hơn tội đã hoàn thành.
Nếu người phạm tội tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự về tội giết người, nhưng vẫn có thể bị xử lý nếu hành vi đã thực hiện cấu thành tội khác (ví dụ cố ý gây thương tích).
Những trường hợp nhẹ hơn và dễ nhầm với tội giết người
- Giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh (Điều 125): hành vi do nạn nhân có hành vi trái pháp luật nghiêm trọng đối với người phạm tội hoặc người thân thích của họ. Mức phạt tù từ 6 tháng đến 3 năm; giết 2 người trở lên thì từ 3 năm đến 7 năm.
- Giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng (Điều 126): người phạm tội phản kháng lại hành vi xâm phạm trái pháp luật nhưng vượt quá mức cần thiết. Hình phạt nhẹ hơn nhiều so với Điều 123.
- Phòng vệ chính đáng (Điều 22 BLHS): hành vi chống trả cần thiết, tương xứng với hành vi xâm hại không phải là tội phạm. Nếu bạn muốn hiểu thêm về ranh giới giữa tự vệ và vi phạm pháp luật, có thể đọc bài mang vũ khí nào để tự vệ mà không vi phạm pháp luật và bình xịt hơi cay tự vệ có bị cấm không.
- Cố ý gây thương tích dẫn đến chết người (Điều 134): người phạm tội chỉ có ý định gây thương tích, không có ý định tước đoạt tính mạng nhưng nạn nhân tử vong. Mức phạt tù có thời hạn thấp hơn đáng kể so với Điều 123 trong phần lớn trường hợp. Việc xác định “cố ý giết người” hay “cố ý gây thương tích” dựa vào chứng cứ về ý thức chủ quan, như công cụ sử dụng, vị trí tác động trên cơ thể, cường độ và diễn biến vụ việc.
- Vô ý làm chết người (Điều 128): không mong muốn và không để mặc cho hậu quả xảy ra, nhưng do cẩu thả hoặc quá tự tin dẫn đến chết người. Đây là lỗi vô ý nên khung phạt thấp hơn tội cố ý giết người.
Ngoài ra, pháp luật còn có các tội riêng như giết hoặc vứt bỏ con mới đẻ (Điều 124), giết con mới đẻ (Điều 124 và Điều 127 tùy trường hợp) hay xúi giục, giúp người khác tự sát. Khi nghiên cứu một vụ việc cụ thể, cần xác định đúng điều luật áp dụng. Về quyền cơ bản của công dân được bảo vệ khỏi hành vi xâm hại, bạn có thể tham khảo bài quyền bất khả xâm phạm về thân thể của công dân.
Người dưới 18 tuổi và các trường hợp không bị tử hình
Bao nhiêu tuổi chịu trách nhiệm hình sự về tội giết người?
Người từ đủ 14 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về tội giết người. Với người dưới 18 tuổi, pháp luật áp dụng chính sách riêng: không áp dụng tù chung thân hoặc tử hình. Nếu điều luật quy định mức cao nhất là chung thân hoặc tử hình, mức phạt tù cao nhất đối với người từ đủ 16 đến dưới 18 tuổi là 18 năm, đối với người từ đủ 14 đến dưới 16 tuổi là 12 năm (Điều 101 BLHS). Từ 01/01/2026, quá trình xử lý còn tuân theo Luật Tư pháp người chưa thành niên 2024.
Ai không bị thi hành án tử hình?
Theo Điều 40 Bộ luật Hình sự, không áp dụng hình phạt tử hình đối với người dưới 18 tuổi khi phạm tội, phụ nữ có thai, phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi và người từ đủ 75 tuổi trở lên. Luật sửa đổi năm 2025 bổ sung thêm trường hợp không thi hành án tử hình đối với người bị kết án mắc bệnh ung thư giai đoạn cuối.
Hình phạt bổ sung và trách nhiệm bồi thường
Ngoài hình phạt tù, người phạm tội giết người còn có thể phải chịu:
- Hình phạt bổ sung: cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 1 năm đến 5 năm; quản chế hoặc cấm cư trú từ 1 năm đến 5 năm (khoản 4 Điều 123).
- Bồi thường thiệt hại về tính mạng (Bộ luật Dân sự 2015): gồm chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, chăm sóc nạn nhân trước khi chết; chi phí mai táng; tiền cấp dưỡng cho những người mà nạn nhân có nghĩa vụ cấp dưỡng; và khoản tiền bù đắp tổn thất tinh thần cho người thân của nạn nhân.
Khoản bù đắp tổn thất tinh thần do các bên thỏa thuận. Nếu không thỏa thuận được, mức tối đa cho một người bị xâm phạm tính mạng là 100 lần mức lương cơ sở. Từ ngày 01/07/2026, lương cơ sở là 2.530.000 đồng/tháng (Nghị định 161/2026/NĐ-CP), nên mức trần theo quy định này là 253 triệu đồng cho một người. Trước đó, khi lương cơ sở là 2.340.000 đồng/tháng, mức trần là 234 triệu đồng.
Lưu ý: Việc bồi thường, khắc phục hậu quả có thể là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhưng không thay thế trách nhiệm hình sự. Gia đình nạn nhân có đồng ý bồi thường hay “bãi nại” thì cơ quan tiến hành tố tụng vẫn tiếp tục xử lý tội giết người, vì đây không phải tội chỉ khởi tố khi có yêu cầu của bị hại.
Tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng ảnh hưởng mức án
Tình tiết giảm nhẹ thường gặp
- Người phạm tội ra đầu thú, tự thú, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải;
- Tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả;
- Phạm tội trong tình trạng tinh thần bị kích động do hành vi trái pháp luật của nạn nhân gây ra;
- Người phạm tội là người khuyết tật nặng, người già, hoặc có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn;
- Lập công chuộc tội, có thành tích xuất sắc trong lao động, chiến đấu… (theo Điều 51 BLHS).
Nếu có từ 2 tình tiết giảm nhẹ thuộc khoản 1 Điều 51 trở lên và Tòa án thấy cần thiết, hình phạt có thể được quyết định dưới mức thấp nhất của khung (Điều 54 BLHS).
Tình tiết tăng nặng
Các tình tiết tăng nặng như phạm tội có tổ chức, tái phạm, lợi dụng chức vụ quyền hạn, xúi giục người dưới 18 tuổi cùng phạm tội, cố tình thực hiện đến cùng… (Điều 52 BLHS) khiến mức án được cân nhắc nặng hơn trong phạm vi khung.
Tình huống minh họa
Tình huống 1: Anh A và anh B xảy ra mâu thuẫn tại quán nhậu. A về nhà lấy dao quay lại đâm nhiều nhát vào vùng ngực B, B tử vong. Hành vi có chuẩn bị hung khí, tác động vào vùng trọng yếu của cơ thể nên thường được xem xét theo Điều 123. Nếu không có tình tiết định khung tăng nặng, khung áp dụng là 7–15 năm tù; nếu cơ quan tiến hành tố tụng xác định có tính chất côn đồ, khung là 12–20 năm, chung thân hoặc tử hình.
Tình huống 2: Chị C bị chồng nhiều năm hành hạ, một lần bị đánh đập dã man nên đã cầm vật nặng đánh chồng tử vong. Tùy chứng cứ, vụ việc có thể được xem xét theo hướng giết người trong trạng thái bị kích động mạnh (Điều 125), vượt quá giới hạn phòng vệ (Điều 126) hoặc tội khác. Việc kết luận thuộc thẩm quyền của cơ quan tố tụng và Tòa án sau khi đánh giá toàn bộ chứng cứ.
Hai ví dụ trên chỉ mang tính minh họa. Mỗi vụ án được giải quyết dựa trên chứng cứ và tình tiết riêng.
Cảnh báo: Che giấu tội phạm (Điều 18 và Điều 389 BLHS) và không tố giác tội phạm (Điều 390 BLHS) trong một số trường hợp, trong đó có tội giết người, cũng có thể bị xử lý hình sự. Người giúp sức, đồng phạm trong vụ án giết người phải chịu trách nhiệm hình sự cùng người thực hành theo quy định về đồng phạm.
Căn cứ pháp lý
- Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13, sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 12/2017/QH14 và Luật số 86/2025/QH15 (hiệu lực từ 01/07/2025): Điều 12, 22, 40, 51, 52, 54, 101, 123, 124, 125, 126, 128, 134, 389, 390.
- Bộ luật Dân sự 2015: Điều 584, Điều 591 (thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm); Nghị quyết 02/2022/NQ-HĐTP hướng dẫn một số quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.
- Nghị định 161/2026/NĐ-CP quy định mức lương cơ sở (từ 01/07/2026).
- Luật Tư pháp người chưa thành niên 2024 (hiệu lực từ 01/01/2026).
- Lưu ý: Dự thảo Bộ luật Hình sự (sửa đổi) đang trong quá trình xây dựng, trình Quốc hội. Nội dung bài viết áp dụng quy định hiện hành; bạn nên theo dõi văn bản mới khi được ban hành.
Câu hỏi thường gặp
Giết người bị phạt tù tối thiểu bao nhiêu năm?
Ở khung cơ bản (khoản 2 Điều 123) mức tối thiểu là 7 năm tù. Ở khung tăng nặng (khoản 1) mức tối thiểu là 12 năm tù. Mức thấp hơn chỉ có khi thuộc tội nhẹ hơn như Điều 125, 126, hoặc khi Tòa án áp dụng nhiều tình tiết giảm nhẹ để quyết định dưới mức thấp nhất của khung.
Giết người có bị tử hình không?
Có thể. Tử hình là mức cao nhất trong khung tăng nặng (khoản 1 Điều 123) và chỉ áp dụng với tội đặc biệt nghiêm trọng, khi không có căn cứ để phạt nhẹ hơn. Hình phạt này không áp dụng với người dưới 18 tuổi, phụ nữ có thai hoặc nuôi con dưới 36 tháng tuổi, người từ đủ 75 tuổi trở lên.
Giết người chưa đạt có bị đi tù không?
Có. Phạm tội chưa đạt vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự về tội giết người, mức án do Tòa án quyết định trong khung hình phạt tương ứng, có xem xét mức độ thực hiện ý định phạm tội. Người chỉ mới chuẩn bị giết người cũng bị phạt tù 1–5 năm.
Gia đình nạn nhân bãi nại thì người giết người có được miễn tội không?
Không. Tội giết người không thuộc nhóm tội chỉ khởi tố khi có yêu cầu của bị hại. Việc bồi thường, được gia đình nạn nhân tha thứ chỉ là tình tiết để Tòa án xem xét giảm nhẹ mức hình phạt, không làm chấm dứt việc truy cứu trách nhiệm hình sự.
Giết người ở độ tuổi 14–16 bị xử lý thế nào?
Người từ đủ 14 đến dưới 16 tuổi phạm tội giết người vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự, nhưng không bị tù chung thân hay tử hình. Mức phạt tù cao nhất đối với nhóm tuổi này là 12 năm. Việc xử lý còn áp dụng các biện pháp, thủ tục riêng theo pháp luật về tư pháp người chưa thành niên.
Giết người phải bồi thường bao nhiêu tiền?
Ngoài chi phí mai táng, cứu chữa, cấp dưỡng thực tế, người gây thiệt hại phải bù đắp tổn thất tinh thần cho thân nhân nạn nhân. Nếu không thỏa thuận được, mức tối đa là 100 lần mức lương cơ sở, tương đương 253 triệu đồng theo mức lương cơ sở 2.530.000 đồng/tháng từ 01/07/2026.
Tóm lại, hành vi cố ý giết người là một trong những tội xâm phạm tính mạng bị xử lý nghiêm khắc nhất: khung cơ bản 7–15 năm tù, khung tăng nặng 12–20 năm, tù chung thân hoặc tử hình, kèm theo hình phạt bổ sung và nghĩa vụ bồi thường. Việc phân biệt đúng giữa giết người, phòng vệ chính đáng, gây thương tích dẫn đến chết người hay vô ý làm chết người luôn dựa trên chứng cứ cụ thể của từng vụ án. Thông tin cập nhật tháng 10/2026.











