Có. Môi giới làm bằng giả không phải một tội danh riêng, nhưng nếu bạn biết rõ đó là bằng giả mà vẫn kết nối người cần bằng với người làm, bạn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự với vai trò đồng phạm (người giúp sức) về tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức theo Điều 341 Bộ luật Hình sự. Hình phạt cao nhất là 7 năm tù.
Tóm tắt nhanh
- Tội danh thường áp dụng: làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức (Điều 341 BLHS 2015, sửa đổi 2017, 2025).
- Người môi giới bị xử lý theo Điều 17 BLHS về đồng phạm, thường là người giúp sức hoặc người tổ chức.
- Khung cơ bản: phạt tiền 30–100 triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến 3 năm hoặc phạt tù 6 tháng – 3 năm. Khung nặng nhất: tù 3–7 năm.
- Chưa đủ yếu tố hình sự thì vẫn có thể bị phạt hành chính, tịch thu giấy tờ giả.
- Cả người nhờ làm bằng giả và người dùng bằng giả cũng bị xử lý.
Môi giới làm bằng giả là gì?
Trong thực tế, môi giới làm bằng giả là hành vi đứng giữa kết nối: nhận yêu cầu của người cần bằng cấp, chứng chỉ, giấy tờ rồi chuyển cho người làm giả, nhận lại sản phẩm để giao cho khách và thường hưởng một khoản “phí” hoặc chênh lệch. Người môi giới có thể không tự tay làm, không tự tay dùng, nhưng vẫn là một mắt xích của chuỗi vi phạm.
Đối tượng bị làm giả không chỉ là bằng đại học. Đó còn có thể là chứng chỉ ngoại ngữ, tin học, chứng chỉ hành nghề, giấy phép lái xe, giấy khám sức khỏe, hồ sơ xin việc hay bất kỳ giấy tờ nào do cơ quan, tổ chức cấp. Về bản chất pháp lý, các giấy tờ này đều thuộc nhóm “tài liệu hoặc giấy tờ khác của cơ quan, tổ chức”.
Môi giới làm bằng giả có bị truy cứu trách nhiệm hình sự không?
Bộ luật Hình sự không có điều luật riêng cho “tội môi giới làm bằng giả”. Tuy vậy, hành vi này vẫn có thể bị xử lý hình sự theo hai bước lập luận:
- Bước 1 – Xác định tội chính: việc làm giả bằng cấp, chứng chỉ là hành vi làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức, thuộc Điều 341 BLHS. Người sử dụng giấy tờ giả để thực hiện hành vi trái pháp luật cũng bị xử lý theo điều này.
- Bước 2 – Xác định vai trò của người môi giới: Điều 17 BLHS quy định đồng phạm là trường hợp có từ hai người trở lên cố ý cùng thực hiện một tội phạm. Người đồng phạm gồm người tổ chức, người thực hành, người xúi giục và người giúp sức. Người môi giới tạo điều kiện cho việc làm giả diễn ra nên thường bị coi là người giúp sức; nếu cầm đầu, điều hành đường dây thì là người tổ chức.
Điều kiện then chốt là yếu tố cố ý. Bạn phải biết (hoặc buộc phải biết) giấy tờ đó là giả và vẫn tham gia. Người hoàn toàn không biết, bị lợi dụng làm trung gian chuyển hồ sơ thì khác. Khi đã biết rõ mà vẫn nhận làm, việc “không trực tiếp làm” hay “chỉ làm theo lệnh cấp trên” không phải căn cứ để thoát tội. Khi quyết định hình phạt, Tòa án sẽ xét tính chất và mức độ tham gia của từng người đồng phạm theo Điều 58 BLHS.
Cảnh báo: Tội phạm hoàn thành ngay khi hành vi làm giả hoặc sử dụng được thực hiện. Dù chưa kịp giao bằng hay chưa có người dùng, hành vi chuẩn bị, nhận đặt hàng và tổ chức làm giả vẫn có thể bị xem xét xử lý.
Khung hình phạt theo Điều 341 BLHS
Người môi giới là đồng phạm sẽ chịu hình phạt trong cùng khung với tội danh chung, được cá thể hóa theo vai trò. Các khung hiện hành như sau:
| Khung | Điều kiện | Hình phạt |
|---|---|---|
| Khoản 1 | Làm giả hoặc sử dụng con dấu, tài liệu, giấy tờ giả để thực hiện hành vi trái pháp luật | Phạt tiền 30–100 triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến 3 năm hoặc phạt tù 6 tháng – 3 năm |
| Khoản 2 | Có tổ chức; phạm tội 2 lần trở lên; làm 2–5 tài liệu; dùng để thực hiện tội phạm; thu lợi bất chính 10 – dưới 50 triệu đồng; tái phạm nguy hiểm | Phạt tù 2–5 năm |
| Khoản 3 | Làm từ 6 tài liệu trở lên; dùng để thực hiện tội rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng; thu lợi bất chính từ 50 triệu đồng | Phạt tù 3–7 năm |
| Khoản 4 | Hình phạt bổ sung | Có thể phạt tiền 5–50 triệu đồng |
Một số nguồn còn ghi mức tối đa khung 1 là 2 năm tù, nhưng theo nội dung Điều 341 sau sửa đổi năm 2017 thì mức trần của khung này là 3 năm. Với người đứng đầu đường dây môi giới, nhận tiền nhiều lần, làm số lượng lớn, khả năng rơi vào khung 2 hoặc khung 3 là rất cao.
Lưu ý: Bộ luật Hình sự đã được sửa đổi, bổ sung bởi luật có hiệu lực từ 01/07/2025. Bạn nên đối chiếu văn bản hợp nhất mới nhất khi cần trích dẫn chính xác trong hồ sơ, vụ việc cụ thể.
Khi nào chỉ bị xử phạt hành chính?
Xử phạt hành chính chỉ áp dụng khi hành vi chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự. Mức phạt phụ thuộc lĩnh vực của giấy tờ (giáo dục, giáo dục nghề nghiệp, giao thông, cư trú, xuất nhập cảnh…) và nghị định xử phạt tương ứng đang có hiệu lực. Theo các văn bản đã từng áp dụng, mức phạt cho làm giả văn bằng, chứng chỉ thường cao hơn hành vi mua bán, sử dụng, trong khoảng vài triệu đến hàng chục triệu đồng; kèm theo là tịch thu tang vật.
Với giấy tờ liên quan đến xuất nhập cảnh, Nghị định 282/2025/NĐ-CP (hiệu lực 15/12/2025) đã tăng mức phạt; hành vi giả mạo hồ sơ để được cấp hộ chiếu, giấy thông hành của công dân Việt Nam bị phạt từ 20 đến 25 triệu đồng, và khoản thu bất hợp pháp từ môi giới trái phép phải nộp lại.
Cần nhớ nguyên tắc: nếu người có thẩm quyền đang xử lý vụ việc phát hiện dấu hiệu tội phạm, họ phải chuyển hồ sơ sang cơ quan tiến hành tố tụng, không tiếp tục xử phạt hành chính.
Các tình huống thực tế
Tình huống 1: Chỉ giới thiệu, không làm, không nhận tiền
Anh A biết bạn mình làm giấy tờ giả và giới thiệu vài người quen. Anh không nhận một đồng nào. Việc không hưởng lợi không loại trừ trách nhiệm; nó chỉ là tình tiết để Tòa xem xét mức độ, vai trò khi quyết định hình phạt. Nếu đã biết rõ mục đích làm giả và vẫn kết nối, anh A vẫn có thể bị coi là người giúp sức.
Tình huống 2: Nhận tiền của khách nhưng không giao bằng
Chị B nhận tiền của người cần chứng chỉ, hứa “lo” bằng giả nhưng không thực hiện. Ngoài rủi ro bị xem xét liên quan đến đồng phạm làm giả, hành vi chiếm đoạt tiền thông qua việc hứa hẹn gian dối còn có thể bị xử lý về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Tội danh cụ thể do cơ quan điều tra xác định dựa trên ý thức chủ quan và chứng cứ.
Tình huống 3: Người làm công ăn lương theo lệnh “sếp”
Một nhân viên được giao scan, chỉnh sửa con dấu để làm hồ sơ giả và biết đó là hành vi sai trái. Việc chỉ làm theo chỉ đạo không xóa trách nhiệm; người này vẫn có thể là đồng phạm, và vai trò thứ yếu chỉ giúp được giảm nhẹ khi quyết định hình phạt.
Tình huống 4: Cả đường dây có phân công
Một nhóm gồm người nhận đơn, người làm giả, người giao hàng, thu tiền. Đây là dấu hiệu “có tổ chức” và rơi vào khung hình phạt nặng hơn; người cầm đầu, chỉ huy chịu trách nhiệm nặng nhất.
Người nhờ làm và người dùng bằng giả bị xử lý thế nào?
Người đặt làm hoặc mua bằng giả không “vô can”. Nếu đã dùng bằng giả để xin việc, đi học, thăng tiến, hoàn thiện hồ sơ hay đáp ứng điều kiện nào đó thì có thể bị xử phạt hành chính, hoặc bị truy cứu hình sự về hành vi sử dụng giấy tờ giả theo Điều 341 khi đủ yếu tố. Cán bộ, công chức, viên chức, đảng viên còn có thể bị kỷ luật nghiêm, thậm chí bị buộc thôi việc hoặc khai trừ.
Trường hợp mua nhưng chưa sử dụng thì thông thường chưa đủ cơ sở để xử lý hình sự, song vẫn có thể bị xử phạt hành chính và tịch thu giấy tờ khi bị phát hiện. Hành vi tương tự với giấy khám sức khỏe cũng gặp rủi ro pháp lý, bạn có thể tham khảo thêm bài mua giấy khám sức khỏe xin việc có được không. Với giấy phép lái xe, hậu quả pháp lý còn kèm theo các mức xử phạt giao thông, xem thêm mức phạt khi không có bằng lái xe máy.
Cách làm hợp pháp thay thế
- Cần bằng, chứng chỉ thật: đăng ký học và thi tại cơ sở được cấp phép, hoặc đề nghị cấp lại, cấp bản sao từ cơ quan đã cấp nếu bị mất.
- Cần bản sao hợp lệ: làm thủ tục chứng thực bản sao từ bản chính. Về thẩm quyền chứng thực hiện nay, bạn có thể xem bài chứng thực sơ yếu lý lịch ở đâu theo quy định hiện hành và mẫu công chứng sơ yếu lý lịch.
- Đã lỡ tham gia: chủ động khai báo, hợp tác với cơ quan chức năng, khắc phục hậu quả là tình tiết giảm nhẹ có thể được xem xét.
- Phát hiện đường dây: trình báo cho cơ quan Công an cấp xã hoặc cơ quan Công an cấp tỉnh nơi gần nhất.
Căn cứ pháp lý
Căn cứ pháp lý
- Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017 và 2025): Điều 17 (đồng phạm), Điều 58 (quyết định hình phạt trong đồng phạm), Điều 341 (làm giả, sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức).
- Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự, hiệu lực từ 01/07/2025.
- Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012 và các nghị định xử phạt theo từng lĩnh vực (giáo dục, giáo dục nghề nghiệp, giao thông…).
- Nghị định 282/2025/NĐ-CP (hiệu lực 15/12/2025) về xử phạt trong lĩnh vực an ninh, trật tự, xuất nhập cảnh, cư trú.
Thông tin cập nhật tháng 10/2026. Bài viết mang tính tham khảo, không thay thế kết luận của cơ quan có thẩm quyền trong từng vụ việc cụ thể.
Câu hỏi thường gặp
Môi giới làm bằng giả có bị đi tù không?
Có thể. Nếu biết là bằng giả mà vẫn môi giới, bạn có thể bị truy cứu là đồng phạm tội làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức. Tùy tính chất, số lượng, khoản lợi thu được, hình phạt từ phạt tiền, cải tạo không giam giữ đến tù tối đa 7 năm.
Môi giới làm bằng giả bị xử lý theo điều nào?
Thường là Điều 341 BLHS kết hợp Điều 17 về đồng phạm. Nếu có hành vi lừa lấy tiền mà không làm bằng, cơ quan tố tụng có thể xem xét thêm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
Không nhận tiền, chỉ giới thiệu thì có phạm tội không?
Có thể vẫn phạm tội nếu bạn cố ý giúp sức và biết mục đích làm giả. Việc không nhận tiền chỉ là căn cứ xem xét mức độ trách nhiệm khi quyết định hình phạt, không phải căn cứ miễn trách nhiệm.
Mua bằng giả nhưng chưa dùng có bị phạt không?
Thông thường chưa đủ căn cứ truy cứu hình sự, nhưng vẫn có thể bị xử phạt hành chính, tịch thu giấy tờ giả theo quy định xử phạt trong từng lĩnh vực.
Làm giả bằng cấp tối đa bị phạt bao nhiêu năm tù?
Theo Điều 341 BLHS, mức tù cao nhất là 7 năm, áp dụng với trường hợp như làm từ 6 tài liệu trở lên hoặc thu lợi bất chính từ 50 triệu đồng. Ngoài ra có thể bị phạt tiền bổ sung 5–50 triệu đồng.
Tóm lại, môi giới làm bằng giả không có tội danh riêng nhưng không nằm ngoài vòng pháp luật: hành vi cố ý kết nối, tạo điều kiện cho việc làm giả có thể bị xử lý hình sự với vai trò đồng phạm. Cách an toàn duy nhất là đi con đường hợp pháp để có giấy tờ, bằng cấp thật.











