Theo Điều 143 Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS) 2015, chỉ được khởi tố vụ án hình sự khi đã xác định có dấu hiệu tội phạm. Dấu hiệu này được xác định dựa trên 6 căn cứ: tố giác của cá nhân; tin báo của cơ quan, tổ chức, cá nhân; tin báo trên phương tiện thông tin đại chúng; kiến nghị khởi tố của cơ quan nhà nước; cơ quan tiến hành tố tụng trực tiếp phát hiện; người phạm tội tự thú.
Tóm tắt nhanh
- Điều kiện bắt buộc: phải có dấu hiệu tội phạm. Chưa có dấu hiệu thì không được khởi tố.
- Có 6 căn cứ (nguồn tin) tại Điều 143 BLTTHS 2015; các văn bản sửa đổi năm 2017, 2021 và 2025 không thay đổi 6 căn cứ này.
- Nguồn tin được giải quyết trong 20 ngày; vụ phức tạp có thể kéo dài không quá 2 tháng, sau đó Viện kiểm sát có thể gia hạn một lần không quá 2 tháng.
- Có 8 trường hợp không được khởi tố (Điều 157), trong đó có hết thời hiệu, chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, không cấu thành tội phạm.
- Từ 01/01/2025, Hội đồng xét xử không tự khởi tố tại phiên tòa mà yêu cầu Viện kiểm sát khởi tố.
Khởi tố vụ án hình sự là gì?
Khởi tố vụ án hình sự là giai đoạn đầu tiên của tố tụng hình sự. Cơ quan có thẩm quyền tiếp nhận nguồn tin, kiểm tra, xác minh rồi ra quyết định khởi tố hoặc không khởi tố vụ án. Quyết định khởi tố vụ án phải ghi rõ căn cứ khởi tố, điều, khoản của Bộ luật Hình sự được áp dụng cùng các nội dung bắt buộc khác của văn bản tố tụng.

Khởi tố vụ án không đồng nghĩa với việc ai đó đã phạm tội. Đây mới là bước xác định có sự việc có dấu hiệu tội phạm để tiến hành điều tra. Việc kết luận một người có tội chỉ thuộc về Tòa án bằng bản án có hiệu lực pháp luật. Người bị tố giác hay bị kiến nghị khởi tố vẫn có các quyền theo luật định, trong đó có quyền được biết nội dung bị tố giác và quyền khiếu nại.
Cần phân biệt với khởi tố bị can. Khởi tố vụ án trả lời câu hỏi “có sự việc phạm tội hay không”, còn khởi tố bị can trả lời câu hỏi “ai là người bị buộc tội”. Hai quyết định này độc lập với nhau và có căn cứ riêng.
6 căn cứ khởi tố vụ án hình sự theo Điều 143
Điều 143 BLTTHS 2015 liệt kê đầy đủ các căn cứ. Thực chất đây là các nguồn tin dẫn tới việc xác định có dấu hiệu tội phạm.
| STT | Căn cứ khởi tố | Ai là chủ thể? |
|---|---|---|
| 1 | Tố giác của cá nhân | Công dân phát hiện hành vi có dấu hiệu tội phạm và báo cho cơ quan có thẩm quyền |
| 2 | Tin báo của cơ quan, tổ chức, cá nhân | Cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân thông báo sự việc có dấu hiệu tội phạm |
| 3 | Tin báo trên phương tiện thông tin đại chúng | Báo chí, truyền hình, báo điện tử… đưa tin về vụ việc |
| 4 | Kiến nghị khởi tố của cơ quan nhà nước | Cơ quan nhà nước có thẩm quyền (thanh tra, kiểm toán, cơ quan quản lý…) kiến nghị bằng văn bản, kèm tài liệu |
| 5 | Cơ quan tiến hành tố tụng trực tiếp phát hiện dấu hiệu tội phạm | Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, cơ quan được giao nhiệm vụ điều tra… |
| 6 | Người phạm tội tự thú | Chính người thực hiện hành vi đến tự khai báo |
Lưu ý: Nhiều tài liệu và bài viết cũ vẫn nhắc “căn cứ khởi tố” theo Bộ luật Tố tụng hình sự 2003. Hiện nay áp dụng BLTTHS 2015 (đã sửa đổi, bổ sung các năm 2017, 2021, 2025). Riêng nội dung 6 căn cứ tại Điều 143 vẫn giữ nguyên.
Giải thích từng căn cứ
Tố giác và tin báo về tội phạm khác nhau thế nào?
Tố giác là việc cá nhân phát hiện và báo cho cơ quan có thẩm quyền biết về hành vi có dấu hiệu tội phạm. Tin báo có phạm vi rộng hơn, bao gồm cả thông tin do cơ quan, tổ chức cung cấp. Tố giác có thể thực hiện trực tiếp, bằng văn bản, qua điện thoại, thư điện tử, bưu chính hoặc ứng dụng VNeID. Nếu tố giác bằng lời, cơ quan tiếp nhận phải lập biên bản và người tố giác ký hoặc điểm chỉ.
Đây cũng là điểm quan trọng: tố giác về tội phạm khác với “tố cáo” theo Luật Tố cáo. Tố cáo là việc báo hành vi vi phạm pháp luật của cán bộ, công chức trong thực thi công vụ hoặc vi phạm quản lý nhà nước. Còn tố giác tội phạm được giải quyết theo BLTTHS.
Tin báo trên phương tiện thông tin đại chúng
Khi báo chí đăng tải thông tin về một vụ việc có dấu hiệu tội phạm, cơ quan có thẩm quyền có trách nhiệm tiếp nhận, kiểm tra, xác minh chứ không chờ có người làm đơn. Thông tin đó chỉ là nguồn tin; cơ quan điều tra vẫn phải xác minh trước khi quyết định khởi tố.
Kiến nghị khởi tố của cơ quan nhà nước
Kiến nghị khởi tố là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền kiến nghị bằng văn bản và gửi kèm chứng cứ, tài liệu liên quan cho cơ quan điều tra. Ví dụ: cơ quan thanh tra phát hiện hành vi vi phạm có dấu hiệu tội phạm trong quá trình thanh tra thì chuyển hồ sơ kiến nghị khởi tố.
Cơ quan tiến hành tố tụng trực tiếp phát hiện
Trong quá trình công tác, điều tra viên, kiểm sát viên hoặc cơ quan được giao nhiệm vụ điều tra có thể tự phát hiện dấu hiệu tội phạm (ví dụ bắt quả tang). Khi đó cơ quan có thẩm quyền lập hồ sơ và xem xét khởi tố mà không cần có tố giác.
Người phạm tội tự thú
Người phạm tội tự đến cơ quan có thẩm quyền khai báo hành vi của mình cũng là căn cứ khởi tố. Việc tự thú còn là tình tiết có thể được xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo Bộ luật Hình sự, nhưng không đương nhiên làm mất trách nhiệm hình sự.
Ai có thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự?
Thẩm quyền khởi tố được quy định tại Điều 153 BLTTHS 2015 (đã sửa đổi). Có thể hiểu như sau:
- Cơ quan điều tra: quyết định khởi tố đối với tất cả vụ việc có dấu hiệu tội phạm, trừ các vụ do Viện kiểm sát hoặc cơ quan khác đang thụ lý, giải quyết.
- Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra: như Bộ đội Biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm, Cảnh sát biển… khởi tố trong phạm vi được giao.
- Viện kiểm sát: khởi tố khi hủy bỏ quyết định không khởi tố của cơ quan điều tra, khi trực tiếp giải quyết nguồn tin, khi tự phát hiện dấu hiệu tội phạm hoặc khi có yêu cầu của Hội đồng xét xử.
- Hội đồng xét xử: từ ngày 01/01/2025 (theo Luật Tổ chức Tòa án nhân dân 2024), nếu tại phiên tòa phát hiện bỏ lọt tội phạm thì chỉ yêu cầu Viện kiểm sát khởi tố vụ án hình sự, không tự ra quyết định khởi tố như trước.
Về nguyên tắc, quyết định khởi tố do cấp trưởng của cơ quan có thẩm quyền ký. Các quyết định này, theo luật, phải được gửi cho Viện kiểm sát để kiểm sát việc khởi tố.
Khởi tố theo yêu cầu của bị hại
Với một số tội ít nghiêm trọng, bị hại có vai trò quyết định. Theo Điều 155 BLTTHS, chỉ được khởi tố vụ án về tội phạm quy định tại khoản 1 các điều 134, 135, 136, 138, 139, 141, 143, 155 và 156 của Bộ luật Hình sự khi có yêu cầu của bị hại hoặc người đại diện của bị hại (nếu bị hại là người dưới 18 tuổi, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất, hoặc đã chết). Các điều này gồm các tội như cố ý gây thương tích, hiếp dâm, cưỡng dâm, làm nhục người khác, vu khống ở mức khoản 1.
Nếu bị hại đã yêu cầu nhưng sau đó rút yêu cầu trước khi mở phiên tòa sơ thẩm thì vụ án phải được đình chỉ. Trường hợp bị hại rút yêu cầu do bị ép buộc, cưỡng bức thì cơ quan tiến hành tố tụng vẫn tiếp tục giải quyết vụ án.
Căn cứ không khởi tố vụ án hình sự
Có dấu hiệu tội phạm chưa chắc đã được khởi tố. Điều 157 BLTTHS (sửa đổi năm 2021) quy định 8 trường hợp không được khởi tố vụ án hình sự:
- Không có sự việc phạm tội.
- Hành vi không cấu thành tội phạm.
- Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội chưa đến tuổi chịu trách nhiệm hình sự.
- Đã có bản án hoặc quyết định đình chỉ vụ án có hiệu lực pháp luật.
- Đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự.
- Tội phạm đã được đại xá.
- Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội đã chết, trừ trường hợp cần tái thẩm đối với người khác.
- Tội phạm thuộc nhóm “khởi tố theo yêu cầu” nêu trên mà bị hại hoặc người đại diện không yêu cầu khởi tố.
Khi có một trong các căn cứ này, người có thẩm quyền ra quyết định không khởi tố vụ án. Nếu đã khởi tố thì phải ra quyết định hủy bỏ quyết định khởi tố. Quyết định đó phải gửi cho Viện kiểm sát trong thời hạn 24 giờ kể từ khi ban hành và thông báo cho người đã tố giác, báo tin. Người tố giác có quyền khiếu nại quyết định không khởi tố.
Thời hạn giải quyết nguồn tin về tội phạm
Điều 147 BLTTHS quy định thời hạn giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố như sau:

- Thông thường: không quá 20 ngày kể từ ngày cơ quan có thẩm quyền nhận được nguồn tin.
- Vụ việc phức tạp hoặc phải xác minh ở nhiều địa điểm: thời hạn có thể kéo dài nhưng không quá 2 tháng.
- Gia hạn: nếu chưa thể kết thúc việc kiểm tra, xác minh, Viện kiểm sát có thẩm quyền có thể gia hạn một lần, không quá 2 tháng.
- Kết quả: hết thời hạn, cơ quan có thẩm quyền phải ra một trong ba quyết định: khởi tố vụ án, không khởi tố vụ án hoặc tạm đình chỉ việc giải quyết nguồn tin (khi có căn cứ theo Điều 148).
Lưu ý: Nếu bạn là người tố giác mà quá thời hạn vẫn chưa nhận được thông báo kết quả, bạn có thể gửi văn bản đề nghị Viện kiểm sát cùng cấp xem xét việc giải quyết nguồn tin. Khi dự kiến khiếu nại, hãy giữ lại biên bản tiếp nhận hoặc giấy biên nhận.
Nộp tố giác, tin báo ở đâu từ khi bỏ cấp huyện?
BLTTHS không buộc bạn nộp đơn tại nơi xảy ra vụ việc hay nơi người bị tố giác cư trú. Bạn có thể gửi đến bất kỳ cơ quan có trách nhiệm tiếp nhận, như Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Công an cấp xã (xã, phường, đặc khu), đồn Công an.
Từ 01/07/2025, chính quyền địa phương hai cấp và Công an không còn cấp huyện. Vì vậy, thực tế bạn có thể đến Công an cấp xã nơi gần nhất, hoặc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp tỉnh đối với vụ việc nghiêm trọng, phức tạp. Theo hướng dẫn của Bộ Công an, Công an cấp xã tiếp nhận, kiểm tra, xác minh sơ bộ và báo cáo đề xuất Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp tỉnh để phân công điều tra viên giải quyết; Viện kiểm sát nhân dân khu vực thực hiện kiểm sát hoạt động này.
Cảnh báo: Cố ý tố giác sai sự thật có thể bị xử lý kỷ luật, xử phạt hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự (chẳng hạn tội vu khống theo Bộ luật Hình sự). Chỉ tố giác khi bạn có căn cứ về sự việc và nên cung cấp tài liệu, chứng cứ đi kèm.
Ví dụ tình huống thực tế
Tình huống 1. Anh A bị B đánh gây thương tích. Công an phường nhận đơn trình báo của anh A và lập biên bản tiếp nhận. Đây là nguồn tin thuộc căn cứ “tố giác của cá nhân”. Nếu tỷ lệ thương tích và tình tiết cấu thành tội phạm đủ rõ, cơ quan điều tra khởi tố vụ án. Lưu ý: với tội cố ý gây thương tích ở khoản 1, nếu rơi vào nhóm khởi tố theo yêu cầu của bị hại thì anh A phải có yêu cầu khởi tố. Anh A rút yêu cầu trước phiên tòa sơ thẩm (không bị ép buộc) thì vụ án được đình chỉ.
Tình huống 2. Báo chí đưa tin về một đường dây sử dụng giấy tờ giả. Cơ quan điều tra tự xác minh dựa trên “tin báo trên phương tiện thông tin đại chúng”. Nếu xác định có hành vi làm hoặc sử dụng giấy tờ giả thì có thể khởi tố. Bạn có thể tham khảo thêm bài mua giấy khám sức khỏe xin việc có được không để hiểu ranh giới giữa vi phạm hành chính và trách nhiệm hình sự.
Tình huống 3. Một người 13 tuổi thực hiện hành vi gây thiệt hại. Dù có sự việc xảy ra, nếu chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự theo quy định thì thuộc căn cứ không khởi tố vụ án, cơ quan có thẩm quyền ra quyết định không khởi tố.
Khi bị điều tra, bạn cần biết giới hạn của việc bắt, giữ người. Xem thêm: quyền bất khả xâm phạm về thân thể của công dân. Một số hành vi thường gặp có thể dẫn tới trách nhiệm hình sự khi đủ yếu tố cấu thành, như trồng cây cần sa hoặc sử dụng bóng cười; mức xử lý phụ thuộc vào tính chất, mức độ cụ thể và quy định hiện hành. Với vũ khí, công cụ hỗ trợ, bạn có thể xem mang vũ khí nào để tự vệ mà không vi phạm pháp luật.
Căn cứ pháp lý
- Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 (Luật số 101/2015/QH13), các Điều 143, 144, 145, 147, 148, 153, 155, 157, 158.
- Luật số 12/2017/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của BLTTHS.
- Luật số 02/2021/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của BLTTHS.
- Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của BLTTHS (hiệu lực 01/07/2025).
- Luật Tổ chức Tòa án nhân dân 2024 (hiệu lực 01/01/2025) về thẩm quyền của Hội đồng xét xử khi phát hiện bỏ lọt tội phạm.
- Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017, 2025).
- Hướng dẫn của Bộ Công an về tiếp nhận, phân loại, xử lý tố giác, tin báo về tội phạm của Công an cấp xã khi không còn Công an cấp huyện.
Thông tin cập nhật tháng 10/2026.
Câu hỏi thường gặp
Căn cứ khởi tố vụ án hình sự gồm những gì?
Gồm 6 căn cứ tại Điều 143 BLTTHS 2015: tố giác của cá nhân; tin báo của cơ quan, tổ chức, cá nhân; tin báo trên phương tiện thông tin đại chúng; kiến nghị khởi tố của cơ quan nhà nước; cơ quan tiến hành tố tụng trực tiếp phát hiện; người phạm tội tự thú. Điều kiện chung là đã xác định có dấu hiệu tội phạm.
Có đơn tố giác thì có chắc chắn bị khởi tố vụ án không?
Không. Cơ quan có thẩm quyền phải kiểm tra, xác minh trước. Sau đó họ ra một trong ba quyết định: khởi tố, không khởi tố hoặc tạm đình chỉ việc giải quyết nguồn tin. Nếu thuộc trường hợp tại Điều 157 thì vụ án không được khởi tố.
Hội đồng xét xử còn quyền khởi tố vụ án hình sự không?
Không còn quyền tự khởi tố từ 01/01/2025. Nếu qua xét xử phát hiện bỏ lọt tội phạm, Hội đồng xét xử chỉ yêu cầu Viện kiểm sát khởi tố vụ án hình sự theo Điều 153 BLTTHS (đã sửa đổi).
Tố giác tội phạm nộp ở đâu khi không còn Công an cấp huyện?
Bạn có thể nộp tại Công an cấp xã, đồn Công an, Cơ quan điều tra Công an cấp tỉnh hoặc Viện kiểm sát. Cơ quan nhận tin có trách nhiệm tiếp nhận, nếu không thuộc thẩm quyền thì chuyển cho cơ quan có thẩm quyền theo luật định.
Bị hại rút yêu cầu khởi tố thì vụ án có dừng không?
Với các tội thuộc nhóm khởi tố theo yêu cầu của bị hại, nếu bị hại rút yêu cầu trước khi mở phiên tòa sơ thẩm thì vụ án phải đình chỉ. Trường hợp bị hại bị ép buộc, cưỡng bức rút yêu cầu thì vụ án vẫn được tiếp tục giải quyết.
Khởi tố vụ án khác khởi tố bị can như thế nào?
Khởi tố vụ án xác định có sự việc có dấu hiệu tội phạm để điều tra. Khởi tố bị can là quyết định xác định một người cụ thể bị buộc tội khi có đủ căn cứ cho thấy người đó đã thực hiện tội phạm.
Tóm lại, căn cứ khởi tố vụ án hình sự là các nguồn tin ghi nhận ở Điều 143 BLTTHS, nhưng chỉ khi xác minh được dấu hiệu tội phạm và không thuộc trường hợp loại trừ tại Điều 157 thì cơ quan có thẩm quyền mới ra quyết định khởi tố. Nắm rõ cơ chế này giúp người tố giác đúng nơi, đúng thủ tục, còn người bị tố giác hiểu rõ quyền của mình.











