Ủy viên ban thường vụ đảng ủy là đảng viên được ban chấp hành đảng bộ bầu vào ban thường vụ – bộ phận nhỏ hơn, thay mặt đảng ủy lãnh đạo, chỉ đạo công việc giữa hai kỳ họp của ban chấp hành. Đảng ủy là cấp ủy (ban chấp hành) của một đảng bộ cơ sở, do đại hội đảng bộ bầu ra. Chỉ đảng ủy có từ 9 ủy viên trở lên mới bầu ban thường vụ.
Tóm tắt nhanh
- Đảng ủy = ban chấp hành của đảng bộ cơ sở (xã, phường, cơ quan, doanh nghiệp, đơn vị sự nghiệp…), thường có từ 30 đảng viên trở lên.
- Ban thường vụ đảng ủy chỉ có khi đảng ủy có từ 9 ủy viên trở lên; dưới 9 ủy viên thì chỉ bầu bí thư, phó bí thư.
- Ủy viên ban thường vụ vừa là đảng ủy viên, vừa được phân công phụ trách lĩnh vực cụ thể và chịu trách nhiệm trước đảng ủy, ban thường vụ.
- Bí thư, phó bí thư đảng ủy được bầu trong số các ủy viên ban thường vụ.
- Văn bản hướng dẫn hiện hành: Điều lệ Đảng và Quy định số 20-QĐ/TW ngày 08/4/2026 về thi hành Điều lệ Đảng.
Đảng ủy là gì?
Theo Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam, tổ chức cơ sở đảng là nền tảng của Đảng, gồm đảng bộ cơ sở và chi bộ cơ sở. Nơi nào có từ 30 đảng viên trở lên thì lập đảng bộ cơ sở, bên dưới có các chi bộ trực thuộc.
Đại hội đảng bộ bầu ra ban chấp hành đảng bộ. Ở cấp cơ sở, ban chấp hành này được gọi tắt là đảng ủy, còn các thành viên là đảng ủy viên (hay cấp ủy viên). Đảng ủy là cơ quan lãnh đạo của đảng bộ giữa hai kỳ đại hội và chịu trách nhiệm trước đại hội, trước cấp ủy cấp trên.
Đảng ủy cơ sở được lập ở nhiều loại hình: xã, phường, đặc khu; cơ quan nhà nước; doanh nghiệp; đơn vị sự nghiệp; đơn vị lực lượng vũ trang…
Ban thường vụ đảng ủy là gì?
Ban thường vụ đảng ủy là tập thể gồm một số ủy viên do ban chấp hành đảng bộ bầu trong số các đảng ủy viên. Tập thể này làm việc thường xuyên hơn đảng ủy, để xử lý công việc trong khoảng thời gian giữa hai kỳ họp của ban chấp hành.
Khi nào đảng ủy có ban thường vụ?
Theo Điều lệ Đảng, đảng ủy cơ sở có từ 9 ủy viên trở lên thì bầu ban thường vụ, rồi bầu bí thư, phó bí thư trong số ủy viên thường vụ. Nếu dưới 9 ủy viên thì không lập ban thường vụ mà chỉ bầu bí thư, phó bí thư.
Ban thường vụ có bao nhiêu thành viên?
Quy định 20-QĐ/TW nêu nguyên tắc số lượng ủy viên ban thường vụ cấp ủy mỗi cấp không quá một phần ba tổng số cấp ủy viên đã được đại hội thông qua. Một số đảng bộ mới thành lập trong nhiệm kỳ 2025–2030 có thể được áp dụng mức khác theo quy định riêng.
Lưu ý: Cách gọi “ban thường vụ đảng ủy” là gọi tắt. Về bản chất, đó là ban thường vụ của cả đảng bộ vì do ban chấp hành đảng bộ bầu ra. Trong một số trường hợp (như thí điểm trước đây), đại hội đảng bộ cơ sở có thể bầu trực tiếp ban thường vụ, nhưng tên gọi và vị trí vẫn như vậy.
Ủy viên ban thường vụ đảng ủy là gì?
Ủy viên ban thường vụ đảng ủy (còn gọi tắt là “thường vụ đảng ủy”, “đảng ủy viên thường vụ”) là đảng viên có hai tư cách cùng lúc:
- Là đảng ủy viên – thành viên ban chấp hành đảng bộ, tham gia thảo luận, biểu quyết các vấn đề của đảng ủy;
- Là thành viên ban thường vụ – tham gia họp, quyết định các công việc thuộc thẩm quyền ban thường vụ và thường được phân công theo dõi một lĩnh vực cụ thể (tổ chức, kiểm tra, tuyên giáo, quốc phòng – an ninh, kinh tế…).
Người giữ chức bí thư và phó bí thư đảng ủy bắt buộc phải là ủy viên ban thường vụ. Ở cấp xã, phường, thành phần ban thường vụ thường có thêm người đứng đầu hội đồng nhân dân, ủy ban nhân dân, Mặt trận Tổ quốc hoặc trưởng các cơ quan tham mưu của đảng ủy, tùy cơ cấu do cấp ủy cấp trên hướng dẫn.
Ví dụ: Đảng bộ phường A có 150 đảng viên, đại hội bầu đảng ủy 15 ủy viên. Ban chấp hành bầu ban thường vụ 5 ủy viên (không quá một phần ba), trong đó có bí thư và 2 phó bí thư. Ông X là ủy viên ban thường vụ, được phân công phụ trách công tác kiểm tra và xây dựng Đảng; ông chịu trách nhiệm trước đảng ủy và ban thường vụ về mảng việc đó.
Nhiệm vụ, quyền hạn của ban thường vụ và ủy viên ban thường vụ
Ban thường vụ đảng ủy có nhiệm vụ gì?
Theo các quy chế làm việc mẫu và quy định hướng dẫn của Trung ương, ban thường vụ đảng ủy thường có những nhiệm vụ chính sau:
- Lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thực hiện và xử lý công việc giữa hai kỳ họp trong phạm vi thẩm quyền hoặc được đảng ủy ủy quyền, sau đó báo cáo lại đảng ủy những việc đã giải quyết;
- Chuẩn bị nội dung các kỳ họp của ban chấp hành, xây dựng dự thảo kế hoạch trình đảng ủy xem xét;
- Truyền đạt, quán triệt nghị quyết, chỉ thị của cấp trên; kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện nghị quyết;
- Lãnh đạo công tác xây dựng tổ chức đảng và đảng viên, công tác cán bộ, kiểm tra, giám sát;
- Chỉ đạo đại hội các chi bộ, đảng bộ bộ phận trực thuộc; khen thưởng, xem xét kỷ luật trong phạm vi thẩm quyền.
Về kết nạp đảng viên, thẩm quyền quyết định thuộc ban thường vụ cấp ủy cấp trên trực tiếp của tổ chức cơ sở đảng, hoặc đảng ủy cơ sở được ủy quyền theo Điều lệ Đảng và Quy định 20-QĐ/TW. Ban thường vụ đảng ủy cơ sở không đương nhiên có quyền này nếu chưa được giao.
Ủy viên ban thường vụ đảng ủy có nhiệm vụ, quyền hạn gì?
Ngoài nhiệm vụ, quyền hạn của một đảng ủy viên, ủy viên ban thường vụ có thêm các nhiệm vụ như:
- Trực tiếp theo dõi, chỉ đạo, giải quyết công việc thuộc lĩnh vực được phân công, chịu trách nhiệm trước đảng ủy và ban thường vụ;
- Tham dự các cuộc họp ban thường vụ, thảo luận và biểu quyết theo nguyên tắc tập trung dân chủ;
- Báo cáo kết quả công việc được phân công, thực hiện tự phê bình và phê bình, kiểm điểm trách nhiệm nêu gương hằng năm;
- Thực hiện các nhiệm vụ khác do bí thư, ban thường vụ hoặc đảng ủy giao.
Lưu ý: Nhiệm vụ cụ thể của từng đảng bộ được ghi trong quy chế làm việc của đảng ủy (xây dựng theo quy chế mẫu của Trung ương và hướng dẫn của cấp ủy cấp trên). Mỗi loại hình (xã, phường, cơ quan, doanh nghiệp nhà nước…) có quy chế mẫu riêng nên chi tiết có thể khác nhau.
Phân biệt đảng ủy, đảng bộ, chi bộ, ban thường vụ
| Khái niệm | Là gì | Ai bầu |
|---|---|---|
| Đảng bộ cơ sở | Tổ chức gồm toàn bộ đảng viên và các chi bộ trực thuộc (thường từ 30 đảng viên) | Đại hội đảng bộ họp để bầu cấp ủy |
| Đảng ủy | Ban chấp hành của đảng bộ cơ sở | Đại hội đảng bộ |
| Ban thường vụ đảng ủy | Nhóm nhỏ trong đảng ủy, làm việc giữa hai kỳ họp | Ban chấp hành đảng bộ (đảng ủy) |
| Bí thư, phó bí thư đảng ủy | Người đứng đầu và cấp phó của đảng ủy | Ban chấp hành bầu trong số ủy viên ban thường vụ |
| Chi bộ, chi ủy | Tổ chức đảng cấp dưới; chi ủy là ban lãnh đạo của chi bộ có từ 9 đảng viên chính thức | Đại hội chi bộ |
Cách tổ chức này cũng tương tự nguyên tắc tập trung dân chủ ở các tổ chức đoàn thể. Nếu quan tâm, bạn có thể đọc thêm về cơ quan lãnh đạo cao nhất của chi đoàn hay nhiệm vụ và quyền của đoàn viên để thấy sự khác biệt giữa tổ chức Đảng và tổ chức Đoàn.
Đảng ủy xã, phường sau sắp xếp đơn vị hành chính 2025
Từ 01/07/2025, cả nước còn 34 tỉnh, thành phố và chính quyền địa phương hai cấp (tỉnh – xã), không còn cấp huyện. Tổ chức đảng được sắp xếp tương ứng: trước đây thường có “đảng ủy xã, phường, thị trấn” trực thuộc huyện ủy, quận ủy; hiện nay đảng bộ xã, phường, đặc khu trực thuộc tỉnh ủy, thành ủy.
Theo hướng dẫn của Ban Bí thư năm 2025 và Quy định 20-QĐ/TW, đảng ủy xã, phường, đặc khu giữ vai trò lãnh đạo toàn diện hệ thống chính trị ở địa bàn và có thể là cấp ủy cấp trên trực tiếp của các tổ chức cơ sở đảng (như đảng bộ, chi bộ cơ quan, doanh nghiệp, trường học trên địa bàn). Ban chấp hành, ban thường vụ đảng ủy xã, phường làm việc theo quy chế làm việc mẫu do Trung ương ban hành.
Với người học tập chính trị hay tìm hiểu về bộ máy, bạn cũng nên nắm khái niệm cơ bản về bản chất của nhà nước để phân biệt vai trò lãnh đạo của Đảng với chức năng quản lý, điều hành của chính quyền. Đảng ủy không làm thay công việc thuộc thẩm quyền của tập thể lãnh đạo và người đứng đầu cơ quan, đơn vị.
Cảnh báo: Số lượng ủy viên, cơ cấu ban thường vụ, tên gọi tổ chức đảng ở từng địa phương có thể thay đổi theo hướng dẫn mới của Trung ương và tỉnh ủy, thành ủy. Khi cần áp dụng cụ thể (làm báo cáo, văn bản, tham luận…), hãy đối chiếu quy chế làm việc và nghị quyết của đảng bộ mình. Về cách trình bày văn bản chính thức, bạn có thể tham khảo bài phong cách ngôn ngữ hành chính.
Căn cứ pháp lý
- Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam (Chương V – Tổ chức cơ sở đảng); Đại hội XIV (tháng 01/2026) không sửa đổi, bổ sung Điều lệ Đảng;
- Quy định số 20-QĐ/TW ngày 08/4/2026 của Ban Chấp hành Trung ương về thi hành Điều lệ Đảng;
- Quy định số 298-QĐ/TW và Quyết định số 302-QĐ/TW ngày 09/6/2025 của Ban Bí thư về chức năng, nhiệm vụ của đảng ủy cấp trên trực tiếp của tổ chức cơ sở đảng ở xã, phường, đặc khu và quy chế làm việc mẫu;
- Quyết định số 244-QĐ/TW ngày 09/6/2014 về Quy chế bầu cử trong Đảng;
- Các quy chế làm việc mẫu của đảng ủy theo từng loại hình tổ chức cơ sở đảng.
Thông tin cập nhật tháng 10/2026.
Câu hỏi thường gặp
Đảng ủy là gì, khác gì đảng bộ?
Đảng bộ là tổ chức gồm toàn bộ đảng viên và các chi bộ trực thuộc trong một phạm vi nhất định. Đảng ủy là ban chấp hành do đại hội đảng bộ bầu ra để lãnh đạo đảng bộ giữa hai kỳ đại hội.
Ủy viên ban thường vụ đảng ủy là gì?
Đó là đảng ủy viên được ban chấp hành đảng bộ bầu vào ban thường vụ. Người này tham gia xử lý công việc giữa hai kỳ họp của đảng ủy và thường phụ trách một lĩnh vực được phân công.
Ủy viên ban thường vụ đảng ủy có phải là bí thư không?
Không đương nhiên. Bí thư và phó bí thư được bầu trong số ủy viên ban thường vụ, nên họ chắc chắn là ủy viên ban thường vụ. Ngược lại, ủy viên ban thường vụ có thể không giữ chức bí thư hay phó bí thư.
Đảng ủy nào không có ban thường vụ?
Đảng ủy cơ sở có dưới 9 ủy viên thì không bầu ban thường vụ, chỉ bầu bí thư và phó bí thư. Đảng ủy từ 9 ủy viên trở lên mới bầu ban thường vụ.
Ban thường vụ đảng ủy có quyền kết nạp đảng viên không?
Điều lệ Đảng giao thẩm quyền quyết định kết nạp cho ban thường vụ cấp ủy cấp trên trực tiếp của tổ chức cơ sở đảng, hoặc cấp ủy cơ sở được ủy quyền. Vì vậy ban thường vụ đảng ủy chỉ làm việc này khi được cấp trên giao hoặc ủy quyền.
Ban thường vụ đảng ủy khác gì ban chấp hành công đoàn cơ sở?
Ban thường vụ đảng ủy thuộc tổ chức Đảng và hoạt động theo Điều lệ Đảng. Ban chấp hành công đoàn cơ sở thuộc tổ chức Công đoàn, hoạt động theo Điều lệ Công đoàn; đảng ủy chỉ lãnh đạo, định hướng chứ không làm thay. Bạn có thể xem thêm mẫu bài tham luận đại hội công đoàn cơ sở để hiểu cách tổ chức đại hội của đoàn thể.
Tóm lại, đảng ủy là ban chấp hành của đảng bộ cơ sở, còn ban thường vụ đảng ủy là nhóm nòng cốt do ban chấp hành bầu ra để điều hành công việc thường xuyên. Ủy viên ban thường vụ là người vừa tham gia lãnh đạo tập thể, vừa trực tiếp phụ trách một mảng công tác và chịu trách nhiệm về mảng đó trước đảng ủy.











