Vợ chồng đánh nhau hoặc chửi bới, xúc phạm nhau là hành vi bạo lực gia đình, dù ai là người ra tay trước. Hiện nay, hành vi này có thể bị phạt hành chính từ 2 đến 20 triệu đồng theo Nghị định 282/2025/NĐ-CP. Nếu gây thương tích từ 11% trở lên hoặc ngược đãi thường xuyên, người vi phạm có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
Tóm tắt nhanh
Cãi vã thông thường chưa bị phạt. Nhưng lăng mạ, chì chiết, đe dọa, đánh đập vợ hoặc chồng là bạo lực gia đình và bị xử phạt.
Phạt hành chính: đe dọa 2–5 triệu đồng; đánh đập, lăng mạ 5–10 triệu đồng; phát tán chuyện đời tư để xúc phạm 10–20 triệu đồng. Thời hiệu xử phạt là 01 năm.
Hình sự: cố ý gây thương tích (Điều 134), làm nhục (Điều 155), ngược đãi hoặc hành hạ vợ/chồng (Điều 185 Bộ luật Hình sự).
Người bị bạo lực có thể báo Công an xã, xin áp dụng biện pháp cấm tiếp xúc, nơi tạm lánh và có quyền yêu cầu ly hôn.
Cãi nhau, đánh nhau giữa vợ chồng có vi phạm pháp luật không?
Vợ chồng bất đồng, to tiếng với nhau đơn thuần chưa phải là vi phạm hành chính. Ranh giới nằm ở nội dung và mức độ của hành vi. Luật Phòng, chống bạo lực gia đình 2022 coi là bạo lực gia đình các hành vi sau giữa các thành viên gia đình, trong đó có vợ chồng:
Bạo lực thể chất: hành hạ, ngược đãi, đánh đập, đe dọa hoặc cố ý xâm hại sức khỏe, tính mạng.
Bạo lực tinh thần: lăng mạ, chì chiết, xúc phạm danh dự, nhân phẩm; cô lập, ngăn cản gặp người thân, gây áp lực tâm lý thường xuyên.
Bạo lực kinh tế, tình dục: cưỡng ép lao động, kiểm soát tài chính, cưỡng ép quan hệ tình dục.
Luật không phân biệt giới tính. Chồng đánh vợ và vợ đánh chồng đều có thể bị xử lý như nhau. Hành vi cũng không cần xảy ra trong nhà. Chửi bới ở nơi công cộng, trước mặt con cái hay đăng lên mạng xã hội đều có thể bị xem xét.
Mức phạt hành chính khi vợ chồng đánh nhau, xúc phạm nhau
Từ 15/12/2025, mức xử phạt được quy định tại Nghị định 282/2025/NĐ-CP, thay thế Nghị định 144/2021/NĐ-CP. Mức phạt tối đa trong lĩnh vực phòng, chống bạo lực gia đình là 30 triệu đồng đối với cá nhân. Bảng dưới đây là các hành vi thường gặp nhất giữa vợ chồng:
Hành vi
Mức phạt (cá nhân)
Điều khoản
Đe dọa xâm hại sức khỏe, tính mạng vợ/chồng
2.000.000 – 5.000.000 đồng
Điều 37
Đánh đập hoặc cố ý xâm hại sức khỏe, tính mạng nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự
5.000.000 – 10.000.000 đồng
Điều 37
Lăng mạ, chì chiết hoặc cố ý xúc phạm danh dự, nhân phẩm
5.000.000 – 10.000.000 đồng
Điều 39
Tiết lộ, phát tán thông tin đời tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình để xúc phạm danh dự, nhân phẩm
10.000.000 – 20.000.000 đồng
Điều 39
Cưỡng ép vợ/chồng ra khỏi chỗ ở hợp pháp (mức cao nhất khi dùng công cụ, phương tiện gây thương tích)
5.000.000 – 30.000.000 đồng tùy mức độ
Điều 45
Một số hành vi nặng hơn trong Điều 37 (hành hạ, ngược đãi, đánh đập) có mức phạt cao hơn, tối đa 20 triệu đồng. Vì vậy, nếu vụ việc có tình tiết nghiêm trọng, bạn nên tra đúng điều khoản trong văn bản gốc thay vì chỉ dựa vào bảng tóm tắt.
Hình thức xử phạt bổ sung và biện pháp khắc phục
Ngoài phạt tiền, người vi phạm có thể bị buộc xin lỗi công khai khi người bị bạo lực yêu cầu. Người vi phạm cũng có thể bị buộc thu hồi tài liệu, hình ảnh đã phát tán hoặc tham gia chương trình giáo dục, tư vấn về phòng, chống bạo lực gia đình. Thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực này là 01 năm.
Lưu ý: Nghị định 144/2021/NĐ-CP không còn hiệu lực. Nếu bạn đọc tài liệu cũ ghi mức phạt 1,5–2 triệu đồng cho hành vi dùng dụng cụ gây thương tích thì cần đối chiếu lại với quy định hiện hành.
Khi nào bị truy cứu trách nhiệm hình sự?
Khi hành vi vượt quá mức vi phạm hành chính, người vi phạm có thể bị xử lý theo Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017, 2025). Ba tội danh thường gặp trong quan hệ vợ chồng gồm:
Tội danh
Dấu hiệu chính
Khung hình phạt cơ bản
Cố ý gây thương tích (Điều 134)
Tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% trở lên; hoặc dưới 11% nhưng có tình tiết như dùng hung khí nguy hiểm, nạn nhân là phụ nữ mang thai…
Cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù 06 tháng – 03 năm. Thương tích nặng hơn thì khung cao hơn (ví dụ 31–60% thuộc khung phạt tù 02 – 06 năm)
Làm nhục người khác (Điều 155)
Xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự
Cảnh cáo, phạt tiền 10 – 30 triệu đồng hoặc cải tạo không giam giữ đến 03 năm; có tình tiết tăng nặng thì bị phạt tù
Ngược đãi hoặc hành hạ vợ/chồng (Điều 185)
Đối xử tồi tệ hoặc bạo lực xâm phạm thân thể, mà thường xuyên khiến nạn nhân đau đớn về thể xác, tinh thần; hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn tái phạm
Cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù 06 tháng – 03 năm. Nạn nhân là phụ nữ có thai, người già yếu, người khuyết tật nặng… thì phạt tù 02 – 05 năm
Điều 185 rất đáng chú ý. Một người từng bị phạt hành chính vì đánh vợ hoặc chồng, nếu tiếp tục tái phạm thì có thể bị truy cứu hình sự, kể cả khi thương tích chưa nặng.
Nạn nhân có thể rút yêu cầu xử lý không?
Với tội cố ý gây thương tích ở khoản 1 Điều 134 và tội làm nhục ở Điều 155, Bộ luật Tố tụng hình sự quy định chỉ khởi tố khi có yêu cầu của người bị hại. Nếu người bị hại rút yêu cầu trước khi mở phiên tòa sơ thẩm thì vụ án được đình chỉ. Riêng trường hợp người bị hại bị ép buộc, cưỡng bức rút yêu cầu thì vẫn có thể tiếp tục xử lý. Các trường hợp thương tích nặng hơn không phụ thuộc cơ chế này.
Cảnh báo: Việc nạn nhân rút đơn không xóa mọi trách nhiệm. Người gây hại vẫn có thể phải bồi thường thiệt hại về sức khỏe và tổn thất tinh thần theo Bộ luật Dân sự. Bạn cũng nên tìm hiểu thêm về quyền bất khả xâm phạm về thân thể của công dân.
Hai bên cùng đánh nhau, cùng chửi nhau thì xử lý thế nào?
Trong thực tế, nhiều vụ việc cả hai vợ chồng cùng to tiếng và xô xát. Cơ quan có thẩm quyền sẽ xem xét vai trò, mức độ và hậu quả của từng người. Mỗi người chịu trách nhiệm về hành vi của chính mình. Việc bên kia ra tay trước chỉ là tình tiết để cân nhắc, không làm mất trách nhiệm nếu bạn đáp trả quá mức.
Chỉ khi hành vi chống trả là cần thiết để ngăn chặn một cuộc tấn công đang xảy ra, mới có thể được xem là phòng vệ chính đáng. Ví dụ, chồng đang dùng dao đe dọa, vợ giật dao hoặc đẩy chồng ra để thoát thân. Nếu cuộc tấn công đã chấm dứt mà bạn vẫn tiếp tục đánh trả thì đó là hành vi vi phạm, không còn là phòng vệ.
Ví dụ tình huống: Anh A và chị B cãi nhau về tiền sinh hoạt. Anh A tát chị B, chị B chửi lại và ném đồ làm anh A xây xước nhẹ. Hàng xóm báo Công an xã. Cả hai đều có thể bị lập biên bản: anh A về hành vi đánh đập, chị B về hành vi xúc phạm hoặc cố ý xâm hại sức khỏe, mỗi người chịu mức phạt riêng. Nếu anh A đã từng bị xử phạt về hành vi này mà còn tái phạm, anh có thể bị xem xét theo Điều 185.
Bị chồng/vợ đánh hoặc xúc phạm thì phải làm gì?
Bước 1 – Bảo đảm an toàn: Rời khỏi nơi đang xảy ra bạo lực, đưa con đến nơi an toàn. Khi tính mạng bị đe dọa, bạn gọi ngay số 113 hoặc báo Công an xã nơi gần nhất.
Bước 2 – Đi khám và lưu giấy tờ y tế: Khi có thương tích, hãy đến cơ sở y tế, giữ lại hồ sơ bệnh án, đơn thuốc, hóa đơn. Đây là căn cứ để cơ quan có thẩm quyền trưng cầu giám định tỷ lệ tổn thương cơ thể.
Bước 3 – Thu thập chứng cứ: Chụp ảnh vết thương, lưu tin nhắn, ghi âm, video (nếu có), ghi lại thời gian, địa điểm và người chứng kiến. Chỉ thu thập bằng cách hợp pháp, không đăng tải lên mạng để tránh tự gây thêm vi phạm.
Bước 4 – Báo tin, tố giác: Gửi đơn hoặc trình báo trực tiếp tại Công an xã, phường nơi xảy ra sự việc. Bạn cũng có thể nhờ Ủy ban nhân dân cấp xã, tổ hòa giải ở cơ sở, Hội Liên hiệp Phụ nữ hỗ trợ.
Bước 5 – Yêu cầu biện pháp bảo vệ: Đề nghị cấm tiếp xúc, bố trí nơi tạm lánh, hỗ trợ y tế, tư vấn tâm lý và trợ giúp pháp lý.
Bước 6 – Cân nhắc ly hôn: Nếu bạo lực lặp lại, bạn có thể nộp đơn ly hôn tại Tòa án có thẩm quyền.
Lưu ý: Luật bảo vệ cả người báo tin, tố giác về bạo lực gia đình. Việc nhờ hàng xóm hoặc người thân báo giúp hoàn toàn hợp pháp, miễn là có sự đồng ý của nạn nhân khi pháp luật yêu cầu.
Cấm tiếp xúc và nơi tạm lánh
Luật Phòng, chống bạo lực gia đình 2022 quy định các biện pháp ngăn chặn và bảo vệ, bao gồm buộc chấm dứt hành vi bạo lực, yêu cầu người có hành vi bạo lực đến trụ sở Công an xã, cấm tiếp xúc, bố trí nơi tạm lánh, chăm sóc y tế và trợ giúp pháp lý.
Cấm tiếp xúc theo quyết định của Chủ tịch UBND cấp xã: mỗi lần không quá 03 ngày, khi có đề nghị của người bị bạo lực hoặc khi hành vi bạo lực đe dọa tính mạng. Chủ tịch UBND cấp xã phải xem xét, quyết định trong vòng 12 giờ kể từ khi nhận đề nghị.
Cấm tiếp xúc theo quyết định của Tòa án: khi Tòa án đang giải quyết vụ án dân sự (ví dụ vụ ly hôn) giữa hai bên, thời hạn không quá 04 tháng.
Nếu bạn phải ở nơi khác dài ngày để tránh bạo lực, hãy lưu ý khai báo cư trú đúng quy định. Tham khảo thêm bài hướng dẫn đăng ký tạm trú online.
Có được ly hôn vì chồng/vợ bạo lực không?
Có. Theo Luật Hôn nhân và gia đình 2014, khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành, Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc một bên có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ chồng. Hôn nhân phải lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được.
Để Tòa án có căn cứ, bạn nên chuẩn bị các tài liệu như biên bản làm việc của Công an xã, quyết định xử phạt, quyết định cấm tiếp xúc, hồ sơ bệnh án, giám định thương tích và lời khai của người làm chứng. Từ 01/07/2025, Tòa án nhân dân khu vực là nơi thụ lý nhiều vụ án ly hôn thay cho Tòa án nhân dân cấp huyện trước đây. Chi tiết xem thêm tại:
Làm gì để mâu thuẫn không leo thang thành bạo lực?
Phần lớn các vụ bạo lực giữa vợ chồng bắt đầu từ những cuộc cãi vã không kiểm soát. Một số cách giúp giảm rủi ro:
Tạm dừng cuộc trò chuyện khi cảm xúc quá mạnh, hẹn nói chuyện lại sau.
Tránh những lời lăng mạ, so sánh, nhắc chuyện riêng tư trước mặt người khác hoặc đăng lên mạng xã hội.
Nhờ người thân đáng tin, tổ hòa giải ở cơ sở hoặc chuyên gia tư vấn hôn nhân, tâm lý hỗ trợ.
Không sử dụng vật dụng, công cụ làm hung khí, vì khi đó mức xử lý sẽ nặng hơn rất nhiều.
Nếu mâu thuẫn đã kéo dài và không thể hàn gắn, ly hôn theo trình tự pháp luật an toàn hơn so với việc để xung đột tiếp diễn.
Câu hỏi thường gặp
Vợ chồng chửi nhau có bị phạt không?
Cãi vã thông thường chưa bị phạt. Nếu có lời lăng mạ, chì chiết hoặc cố ý xúc phạm danh dự, nhân phẩm thì bị phạt từ 5 đến 10 triệu đồng. Nếu phát tán chuyện đời tư, bí mật gia đình để xúc phạm thì mức phạt là 10 đến 20 triệu đồng.
Vợ đánh chồng có bị xử lý không?
Có. Luật không phân biệt giới tính người thực hiện. Vợ đánh chồng, gây thương tích hoặc đe dọa đều có thể bị phạt hành chính hoặc truy cứu hình sự giống như trường hợp chồng đánh vợ.
Chồng đánh vợ gây thương tích bao nhiêu phần trăm thì bị đi tù?
Thương tích từ 11% trở lên có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội cố ý gây thương tích. Thương tích dưới 11% vẫn có thể bị xử lý hình sự nếu có tình tiết như dùng hung khí nguy hiểm hoặc nạn nhân là phụ nữ mang thai. Nếu bạo lực lặp lại sau khi đã bị phạt hành chính, còn có thể bị xử lý theo Điều 185.
Bị đánh thì báo ở đâu?
Bạn báo cho Công an xã, phường nơi xảy ra sự việc hoặc gọi 113 khi khẩn cấp. Bạn cũng có thể đề nghị Chủ tịch UBND cấp xã áp dụng biện pháp cấm tiếp xúc và nhờ Hội Liên hiệp Phụ nữ hoặc tổ hòa giải ở cơ sở hỗ trợ.
Có thể rút đơn sau khi đã tố cáo không?
Với tội cố ý gây thương tích ở khoản 1 Điều 134 và tội làm nhục, người bị hại có thể rút yêu cầu trước khi mở phiên tòa sơ thẩm thì vụ án được đình chỉ. Tuy nhiên, việc rút đơn phải hoàn toàn tự nguyện và không loại trừ trách nhiệm bồi thường dân sự.
Quá bao lâu thì không bị phạt hành chính nữa?
Thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính về phòng, chống bạo lực gia đình là 01 năm kể từ ngày thực hiện hành vi. Với hành vi có dấu hiệu tội phạm, thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự được tính theo Bộ luật Hình sự.
Căn cứ pháp lý
Luật Phòng, chống bạo lực gia đình 2022 (số 13/2022/QH15).
Nghị định 282/2025/NĐ-CP ngày 30/10/2025 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng, chống bạo lực gia đình (hiệu lực từ 15/12/2025, thay thế Nghị định 144/2021/NĐ-CP).
Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017, 2025): Điều 134, Điều 155, Điều 185.
Bộ luật Tố tụng hình sự 2015: Điều 155 (khởi tố theo yêu cầu của bị hại).
Luật Hôn nhân và gia đình 2014: Điều 56.
Nghị định 76/2023/NĐ-CP hướng dẫn Luật Phòng, chống bạo lực gia đình (biện pháp cấm tiếp xúc).
Tóm lại, vợ chồng đánh nhau hay xúc phạm nhau không còn là chuyện riêng của gia đình. Tùy mức độ, người vi phạm có thể bị phạt từ vài triệu đến 30 triệu đồng hoặc bị truy cứu hình sự. Người bị bạo lực có quyền yêu cầu bảo vệ, cấm tiếp xúc, nơi tạm lánh và ly hôn. Bài viết mang tính tham khảo chung, không thay thế ý kiến của cơ quan có thẩm quyền trong từng vụ việc cụ thể. Thông tin cập nhật tháng 10/2026.
Lưu ý: Nội dung bài viết mang tính chất tham khảo, được biên soạn theo quy định pháp luật tại thời điểm cập nhật. Với vụ việc cụ thể, bạn nên liên hệ cơ quan có thẩm quyền hoặc luật sư để được hướng dẫn chính xác. Xem miễn trừ trách nhiệm.
Ban biên tập Luật Sư X biên soạn, rà soát và cập nhật thông tin pháp luật phổ thông theo văn bản hiện hành, giúp người dân hiểu đúng quyền và nghĩa vụ của mình.