Điều 156 Bộ luật Hình sự: Tội vu khống và mức phạt mới nhất 2026

Biên soạn:

· Cập nhật:

Điều 156 Bộ luật Hình sự: Tội vu khống và mức phạt mới nhất 2026

Điều 156 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) quy định về tội vu khống: cố ý bịa đặt hoặc loan truyền những điều biết rõ là sai sự thật nhằm xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự hoặc gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác; hoặc bịa đặt người khác phạm tội rồi tố cáo họ trước cơ quan có thẩm quyền. Mức phạt cao nhất là 7 năm tù.

Tóm tắt nhanh

  • Tội vu khống có hai nhóm hành vi: bịa đặt/loan truyền thông tin sai sự thật và bịa đặt người khác phạm tội để tố cáo.
  • Bắt buộc phải có lỗi cố ý: người đăng, nói hoặc tố cáo biết rõ thông tin là sai.
  • Có 3 khung hình phạt: phạt tiền 10–50 triệu đồng/cải tạo không giam giữ đến 2 năm/tù 3 tháng–1 năm; tù 1–3 năm; tù 3–7 năm.
  • Người từ đủ 16 tuổi trở lên có năng lực trách nhiệm hình sự phải chịu trách nhiệm.
  • Vu khống trên mạng xã hội là tình tiết tăng nặng ở khoản 2; nếu chưa đến mức hình sự có thể bị phạt hành chính theo Nghị định 174/2026/NĐ-CP (từ 01/07/2026).

Điều 156 Bộ luật Hình sự quy định những gì?

Điều 156 nằm trong Chương XV của Bộ luật Hình sự (BLHS) – nhóm các tội xâm phạm quyền tự do, dân chủ của công dân. Điều luật bảo vệ danh dự, nhân phẩm và quyền, lợi ích hợp pháp của con người trước những thông tin bịa đặt.

Theo khoản 1, người nào thực hiện một trong hai hành vi sau bị xử lý hình sự:

  • Bịa đặt hoặc loan truyền những điều biết rõ là sai sự thật nhằm xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự hoặc gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác;
  • Bịa đặt người khác phạm tội và tố cáo họ trước cơ quan có thẩm quyền.

Đến thời điểm cập nhật (tháng 10/2026), nội dung Điều 156 vẫn được áp dụng theo Bộ luật Hình sự 2015 đã sửa đổi, bổ sung năm 2017 (cụm từ “mạng internet” ở khoản 2 được thay bằng “mạng máy tính hoặc mạng viễn thông, phương tiện điện tử”).

Dấu hiệu cấu thành tội vu khống

Mặt khách quan: hành vi bịa đặt, loan truyền hoặc tố cáo sai

  • Bịa đặt: tự dựng lên câu chuyện, sự việc không có thật về người khác.
  • Loan truyền: lan truyền thông tin sai sự thật cho người khác biết, bằng lời nói, văn bản, hình ảnh hoặc đăng tải trên mạng.
  • Tố cáo sai: báo, gửi đơn tố cáo người khác phạm tội với cơ quan có thẩm quyền trong khi người đó không hề phạm tội.

Mặt chủ quan: lỗi cố ý

Người phạm tội phải biết rõ thông tin là sai sự thật mà vẫn bịa đặt hoặc lan truyền. Nếu bạn tin thông tin là đúng và chia sẻ lại do nhầm lẫn, thiếu kiểm chứng thì chưa đủ yếu tố cấu thành tội này, dù có thể phải chịu trách nhiệm ở góc độ khác (dân sự, hành chính).

Khách thể: danh dự, nhân phẩm, quyền lợi hợp pháp

Hành vi xâm phạm danh dự, nhân phẩm hoặc quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân. Về nguyên tắc, người bị xâm phạm phải là con người cụ thể, xác định được. Quyền bảo vệ danh dự, nhân phẩm gắn với quyền bất khả xâm phạm của công dân, bạn có thể đọc thêm tại bài quyền bất khả xâm phạm về thân thể của công dân.

Chủ thể: từ đủ 16 tuổi, có năng lực trách nhiệm hình sự

Tội vu khống không thuộc nhóm tội mà người từ 14 đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự, nên chủ thể là người từ đủ 16 tuổi trở lên, có năng lực trách nhiệm hình sự.

Khung hình phạt tội vu khống

Khung Hình phạt Trường hợp áp dụng
Khoản 1 Phạt tiền 10.000.000–50.000.000 đồng, cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù 03 tháng–01 năm Hành vi bịa đặt/loan truyền sai sự thật hoặc bịa đặt người khác phạm tội để tố cáo
Khoản 2 Phạt tù 01–03 năm Có tổ chức; lợi dụng chức vụ, quyền hạn; đối với 02 người trở lên; đối với ông, bà, cha, mẹ, người dạy dỗ, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục, chữa bệnh cho mình; đối với người đang thi hành công vụ; sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử; gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân ở mức tổn thương cơ thể thấp hơn quy định tại khoản 3; vu khống người khác phạm tội rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng
Khoản 3 Phạt tù 03–07 năm Vì động cơ đê hèn; gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân ở mức tổn thương cơ thể cao theo luật định; làm nạn nhân tự sát
Khoản 4 (bổ sung) Phạt tiền 10.000.000–50.000.000 đồng; cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định 01–05 năm Có thể áp dụng thêm bên cạnh hình phạt chính

Lưu ý: với các tình tiết liên quan đến tỷ lệ tổn thương cơ thể do rối loạn tâm thần và hành vi, mức phần trăm cụ thể được xác định qua giám định pháp y tâm thần. Khi cần áp dụng vào vụ việc thật, bạn nên đối chiếu nguyên văn khoản 2, khoản 3 Điều 156 trong văn bản hiện hành.

Vu khống trên mạng xã hội bị xử lý thế nào?

Đăng bài, bình luận, livestream hay nhắn tin vu khống người khác trên Facebook, Zalo, TikTok… đều có thể bị xử lý. Việc “sử dụng mạng máy tính hoặc mạng viễn thông, phương tiện điện tử để phạm tội” là tình tiết định khung tăng nặng ở khoản 2, tức khung phạt tù từ 1 đến 3 năm.

Xử lý hình sự và xử phạt hành chính khác nhau ở đâu?

Nếu hành vi chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm, người vi phạm có thể bị xử phạt hành chính. Từ 01/07/2026, Nghị định 174/2026/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bưu chính, viễn thông, tần số vô tuyến điện, giao dịch điện tử và công nghệ thông tin. Theo Điều 95 của nghị định này, hành vi cung cấp, chia sẻ thông tin giả mạo, sai sự thật, xuyên tạc, vu khống, xúc phạm uy tín cơ quan, tổ chức hoặc danh dự, nhân phẩm cá nhân trên mạng xã hội bị phạt từ 20 đến 30 triệu đồng. Trường hợp gây hậu quả như gây hoang mang trong nhân dân, ảnh hưởng hoạt động kinh tế – xã hội hoặc cản trở cơ quan nhà nước, người thi hành công vụ nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự thì khung phạt cao hơn, lên đến 50 triệu đồng.

Trước đây, hành vi này bị xử lý theo Điều 101 Nghị định 15/2020/NĐ-CP với mức thấp hơn (10–20 triệu đồng); nghị định này đã được thay thế trong lĩnh vực nêu trên kể từ 01/07/2026. Ngoài tiền phạt, người vi phạm còn có thể bị buộc gỡ bỏ thông tin sai sự thật.

Cảnh báo: xóa bài sau khi bị phản ánh không làm mất trách nhiệm pháp lý nếu thông tin đã được lan truyền và gây thiệt hại. Ảnh chụp màn hình, tin nhắn, đường dẫn bài đăng đều có thể được dùng làm chứng cứ.

Ví dụ tình huống: A và B là hai người cùng kinh doanh. Vì mâu thuẫn tiền bạc, A biết rõ B không hề lừa đảo nhưng vẫn đăng bài lên nhóm cộng đồng với nội dung “B lừa đảo, chiếm đoạt tiền của nhiều người”, kèm hình ảnh của B. Bài viết được chia sẻ rộng rãi khiến B mất khách hàng. Hành vi của A có dấu hiệu tội vu khống, và việc dùng mạng xã hội để phạm tội có thể làm A thuộc khung tăng nặng.

Với các hành vi vi phạm pháp luật khác cũng thường bị xử lý chồng lấn giữa hành chính và hình sự, bạn có thể tham khảo cách phân định tương tự ở bài người sử dụng bóng cười có vi phạm không hoặc trồng bao nhiêu cây cần sa thì bị bắt.

Phân biệt vu khống với làm nhục, nói sai sự thật thông thường

Tiêu chí Tội vu khống (Điều 156) Tội làm nhục người khác (Điều 155)
Nội dung thông tin Bịa đặt, loan truyền điều sai sự thật Xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự bằng nhiều cách, không nhất thiết là thông tin bịa đặt
Lỗi Biết rõ là sai vẫn bịa đặt/loan truyền Cố ý xúc phạm, hạ thấp danh dự, nhân phẩm
Hành vi tố cáo Có thể gồm tố cáo người khác phạm tội mà không có thật Không có hành vi này

Ngoài ra, nếu bạn nói sai sự thật nhưng không biết là sai, hoặc nêu đánh giá, góp ý trung thực dựa trên sự việc có thật, thì thường không bị coi là vu khống. Người tố cáo sai do nhận thức nhầm, thiếu thông tin cũng khác với người cố tình bịa đặt để hại người khác.

Khởi tố theo yêu cầu của bị hại, thời hiệu và án treo

Khoản 1 chỉ khởi tố khi bị hại yêu cầu

Người phạm tội thuộc trường hợp khoản 1 Điều 156 chỉ bị truy cứu trách nhiệm hình sự khi người bị hại (hoặc người đại diện hợp pháp nếu bị hại là người dưới 18 tuổi, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất, hoặc đã chết) có yêu cầu khởi tố. Nếu trước ngày mở phiên tòa sơ thẩm bị hại rút yêu cầu thì vụ án phải được đình chỉ (theo Bộ luật Tố tụng hình sự 2015). Từ khoản 2 trở đi, cơ quan tố tụng có thể khởi tố mà không phụ thuộc vào yêu cầu của bị hại.

Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự

Theo cách phân loại tội phạm tại BLHS, khoản 1 và khoản 2 thuộc loại tội ít nghiêm trọng (mức cao nhất của khung đến 3 năm tù), còn khoản 3 thuộc loại tội nghiêm trọng (trên 3 năm đến 7 năm tù). Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự tương ứng là 5 năm với tội ít nghiêm trọng và 10 năm với tội nghiêm trọng, tính từ ngày tội phạm được thực hiện.

Có được hưởng án treo không?

Tòa án có thể cho hưởng án treo nếu người bị xử phạt tù không quá 3 năm, nhân thân tốt, có tình tiết giảm nhẹ và xét thấy không cần bắt chấp hành hình phạt tù. Vì vậy, với khoản 1 và khoản 2, án treo là khả năng có thể xảy ra; khoản 3 (từ 3 năm trở lên) về nguyên tắc thường khó áp dụng.

Bị vu khống cần làm gì?

  1. Bước 1 – Lưu giữ chứng cứ: chụp màn hình bài đăng, tin nhắn, ghi lại đường dẫn, thời gian đăng, danh sách người chia sẻ; lập vi bằng nếu cần. Không tự ý cắt ghép hay chỉnh sửa nội dung.
  2. Bước 2 – Chứng minh thông tin là sai: thu thập giấy tờ, xác nhận, lời khai nhân chứng cho thấy sự việc không đúng.
  3. Bước 3 – Yêu cầu gỡ bỏ, đính chính: gửi yêu cầu đến nền tảng mạng xã hội hoặc người đăng; có thể trao đổi, thỏa thuận xin lỗi công khai.
  4. Bước 4 – Gửi đơn đề nghị xử lý: nộp đơn tố giác/yêu cầu khởi tố đến Cơ quan Công an có thẩm quyền (nay là công an cấp xã hoặc cơ quan điều tra thuộc Công an cấp tỉnh tùy tính chất vụ việc). Với khoản 1, đơn của bị hại là điều kiện để khởi tố.
  5. Bước 5 – Yêu cầu bồi thường thiệt hại: theo Bộ luật Dân sự 2015, người bị xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín có quyền yêu cầu chấm dứt hành vi, xin lỗi, cải chính công khai và bồi thường thiệt hại. Mức bồi thường do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được, Tòa án quyết định trong giới hạn luật quy định theo mức lương cơ sở tại thời điểm giải quyết.

Lưu ý: Tòa án nhân dân khu vực (hoạt động từ 01/07/2025) là cấp xét xử sơ thẩm đối với phần lớn vụ án hình sự về tội vu khống thuộc khung thông thường. Việc xác định thẩm quyền cụ thể phụ thuộc vào khung hình phạt và các quy định về thẩm quyền xét xử.

Nếu bạn cần trình bày sự việc bằng văn bản gửi cơ quan hoặc đơn vị, cách viết rõ ràng, đúng văn phong sẽ giúp ích; có thể tham khảo bài phong cách ngôn ngữ hành chính là gì.

Câu hỏi thường gặp

Điều 156 Bộ luật Hình sự quy định tội gì?

Điều 156 quy định tội vu khống: bịa đặt hoặc loan truyền điều biết rõ là sai sự thật nhằm xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự hoặc gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác; hoặc bịa đặt người khác phạm tội và tố cáo họ trước cơ quan có thẩm quyền.

Vu khống người khác bị phạt tù bao nhiêu năm?

Tùy khung, người phạm tội có thể bị phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm (khoản 1), từ 01 đến 03 năm (khoản 2) hoặc từ 03 đến 07 năm (khoản 3). Ngoài ra có thể bị phạt tiền bổ sung và cấm đảm nhiệm chức vụ, hành nghề từ 1 đến 5 năm.

Vu khống trên Facebook có bị đi tù không?

Có thể. Dùng mạng xã hội để vu khống là tình tiết tăng nặng ở khoản 2 (phạt tù 1–3 năm). Nếu chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm, người đăng vẫn có thể bị xử phạt hành chính theo Nghị định 174/2026/NĐ-CP.

Bị vu khống có thể rút đơn yêu cầu khởi tố không?

Với trường hợp thuộc khoản 1, bị hại có quyền rút yêu cầu khởi tố trước ngày mở phiên tòa sơ thẩm và khi đó vụ án phải được đình chỉ. Với các khung nặng hơn, quy định này không áp dụng theo cách tương tự.

Tố cáo sai sự thật có phải là vu khống không?

Chỉ khi người tố cáo biết rõ người bị tố cáo không phạm tội mà vẫn bịa đặt và tố cáo trước cơ quan có thẩm quyền. Tố cáo do nhận thức nhầm, thiếu thông tin hoặc không có lỗi cố ý thì không cấu thành tội vu khống.

Trẻ em, học sinh vu khống bạn trên mạng có bị truy cứu hình sự không?

Người dưới 16 tuổi không chịu trách nhiệm hình sự về tội vu khống. Tuy nhiên gia đình, nhà trường vẫn phải giáo dục, quản lý, và có thể phát sinh trách nhiệm bồi thường dân sự của người giám hộ nếu gây thiệt hại.

Tóm lại, Điều 156 BLHS bảo vệ danh dự, nhân phẩm bằng chế tài từ phạt tiền đến tối đa 7 năm tù, và việc vu khống trên mạng xã hội còn có thể bị xử phạt hành chính nặng hơn từ 01/07/2026. Trước khi đăng hay chia sẻ một thông tin về người khác, bạn nên kiểm chứng nguồn tin; nếu là người bị hại, hãy bảo toàn chứng cứ và sử dụng đúng các kênh pháp lý để bảo vệ mình.

Lưu ý: Nội dung bài viết mang tính chất tham khảo, được biên soạn theo quy định pháp luật tại thời điểm cập nhật. Với vụ việc cụ thể, bạn nên liên hệ cơ quan có thẩm quyền hoặc luật sư để được hướng dẫn chính xác. Xem miễn trừ trách nhiệm.

Ban biên tập Luật Sư X

Có thể bạn quan tâm

Xem tất cả →