Cách giết người bị xử lý thế nào? Khi nào làm chết người không đi tù

Biên soạn:

· Cập nhật:

Cách giết người bị xử lý thế nào? Khi nào làm chết người không đi tù

Pháp luật Việt Nam không có “cách giết người” nào hợp pháp: cố ý tước đoạt mạng sống người khác là tội giết người, bị phạt tù từ 7 năm đến tù chung thân hoặc tử hình. Người làm chết người chỉ không bị xử lý hình sự khi thuộc các trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự, như phòng vệ chính đáng, sự kiện bất ngờ, mất năng lực trách nhiệm hình sự hoặc chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự.

Tóm tắt nhanh

  • Giết người (Điều 123 Bộ luật Hình sự): phạt tù 7–15 năm; có tình tiết định khung thì 12–20 năm, chung thân hoặc tử hình. Chuẩn bị giết người cũng bị phạt tù 1–5 năm.
  • Không phải chịu trách nhiệm hình sự: sự kiện bất ngờ, mất năng lực trách nhiệm hình sự, phòng vệ chính đáng, tình thế cấp thiết, gây thiệt hại khi bắt giữ người phạm tội đúng mức cần thiết.
  • Vượt quá giới hạn phòng vệ, bị kích động mạnh hoặc vô ý làm chết người vẫn là tội phạm, nhưng khung hình phạt nhẹ hơn nhiều, có thể được cải tạo không giam giữ hoặc hưởng án treo.
  • Người dưới 14 tuổi không bị truy cứu trách nhiệm hình sự; từ đủ 14 đến dưới 16 tuổi vẫn phải chịu trách nhiệm về tội giết người.

Giết người là tội gì, bị xử lý thế nào?

Giết người là hành vi cố ý tước đoạt tính mạng người khác một cách trái pháp luật, được quy định tại Điều 123 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017 và 2025). Người từ đủ 14 tuổi trở lên và có năng lực trách nhiệm hình sự có thể bị truy cứu về tội này. Hành vi có thể là hành động, cũng có thể là không hành động khi buộc phải làm.

Trường hợp Hình phạt
Khung cơ bản (khoản 2) Phạt tù từ 07 năm đến 15 năm
Có tình tiết định khung tăng nặng (khoản 1): giết 02 người trở lên, giết người dưới 16 tuổi, giết phụ nữ biết là có thai, giết người thi hành công vụ, thuê giết người hoặc giết người thuê, có tính chất côn đồ, có tổ chức, vì động cơ đê hèn… Phạt tù từ 12 năm đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình
Chuẩn bị phạm tội (khoản 3) Phạt tù từ 01 năm đến 05 năm
Hình phạt bổ sung (khoản 4) Có thể bị cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định, quản chế hoặc cấm cư trú từ 01 năm đến 05 năm

Cảnh báo: Chỉ chuẩn bị công cụ, phương tiện hoặc tạo điều kiện để giết người, dù chưa thực hiện, cũng đã có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Hành vi đã bắt đầu nhưng nạn nhân không chết (phạm tội chưa đạt) vẫn bị xử lý về tội giết người.

Hai khái niệm dễ nhầm: không phạm tội và không phải ngồi tù

Khi tìm “làm chết người có phải đi tù không”, nhiều người gộp hai tình huống khác nhau:

  • Không phải chịu trách nhiệm hình sự: pháp luật coi hành vi không phải là tội phạm hoặc người thực hiện không bị truy cứu. Đây là các trường hợp “loại trừ trách nhiệm hình sự” ở Chương IV Bộ luật Hình sự.
  • Vẫn phạm tội nhưng không phải chấp hành hình phạt tù giam: tòa án tuyên cải tạo không giam giữ, án treo hoặc miễn trách nhiệm hình sự trong những điều kiện luật cho phép. Cách này chỉ áp dụng được với tội nhẹ, không áp dụng cho giết người thông thường.

Các trường hợp làm chết người không phải chịu trách nhiệm hình sự

Bộ luật Hình sự 2015 quy định các trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự từ Điều 20 đến Điều 26. Với hậu quả làm chết người, các trường hợp sau thường được xem xét.

1. Phòng vệ chính đáng (Điều 22)

Phòng vệ chính đáng là hành vi của người vì bảo vệ quyền hoặc lợi ích chính đáng của mình, của người khác hoặc lợi ích của Nhà nước, cơ quan, tổ chức mà chống trả một cách cần thiết người đang có hành vi xâm phạm. Phòng vệ chính đáng không phải là tội phạm. Muốn được công nhận, bạn cần đủ các điều kiện:

  • Có hành vi tấn công trái pháp luật, đang diễn ra hoặc có nguy cơ xảy ra ngay tức khắc.
  • Chống trả nhằm bảo vệ lợi ích chính đáng, không phải trả thù hay “đánh trước”.
  • Mức độ chống trả tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi tấn công.

Nếu kẻ tấn công đã dừng hẳn hành vi xâm hại, quyền phòng vệ không còn. Gây thiệt hại cho họ lúc này không còn là phòng vệ. Về quyền được bảo vệ thân thể trước hành vi xâm hại, bạn có thể đọc thêm bài quyền bất khả xâm phạm về thân thể của công dân.

2. Sự kiện bất ngờ (Điều 20)

Người thực hiện hành vi gây hậu quả nguy hại cho xã hội trong trường hợp không thể thấy trước hoặc không buộc phải thấy trước hậu quả thì không phải chịu trách nhiệm hình sự. Điểm mấu chốt là không có lỗi: người đó không lường trước được và theo hoàn cảnh cụ thể cũng không buộc phải lường trước. Nếu bạn buộc phải thấy trước mà không thấy, đó là lỗi vô ý, có thể bị xử lý về tội vô ý làm chết người.

3. Tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự (Điều 21)

Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội khi đang mắc bệnh tâm thần hoặc bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc điều khiển hành vi thì không phải chịu trách nhiệm hình sự. Tình trạng này phải được xác định bằng giám định pháp y tâm thần theo quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, không phải do tự nhận. Người đó có thể bị áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh.

4. Tình thế cấp thiết (Điều 23)

Đây là tình thế mà một người muốn tránh gây thiệt hại cho quyền, lợi ích hợp pháp của mình hoặc người khác thì không còn cách nào khác ngoài việc gây một thiệt hại nhỏ hơn thiệt hại cần ngăn ngừa. Với tính mạng con người, trường hợp này gần như không áp dụng được. Thiệt hại gây ra phải nhỏ hơn thiệt hại cần ngăn chặn, mà mạng sống thì không thể so sánh với tài sản hay lợi ích thông thường.

5. Gây thiệt hại khi bắt giữ người phạm tội (Điều 24)

Hành vi của người để bắt giữ người đang thực hiện tội phạm hoặc bị truy nã mà không còn cách nào khác nên buộc phải dùng vũ lực cần thiết, gây thiệt hại cho người bị bắt, không phải là tội phạm. Nếu dùng vũ lực rõ ràng quá mức cần thiết, người bắt giữ vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự.

Lưu ý: Bộ luật Hình sự còn quy định hai trường hợp loại trừ khác: rủi ro trong nghiên cứu, thử nghiệm, áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, công nghệ (Điều 25) và thi hành mệnh lệnh của người chỉ huy, người lãnh đạo (Điều 26). Hai trường hợp này có điều kiện chặt chẽ, ít liên quan đến đời sống thường ngày.

Chưa đủ tuổi có phải chịu trách nhiệm về tội giết người không?

Người dưới 14 tuổi không phải chịu trách nhiệm hình sự. Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi chỉ chịu trách nhiệm về tội rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng, trong đó có tội giết người. Vì vậy, thiếu niên từ đủ 14 tuổi giết người vẫn bị truy cứu, nhưng bị xử lý theo thủ tục riêng và hình phạt nhẹ hơn người đã thành niên. Cha mẹ hoặc người giám hộ của người dưới 18 tuổi còn có thể phải bồi thường thiệt hại về dân sự.

Vẫn là tội phạm nhưng bị xử nhẹ hơn

Có những trường hợp làm chết người vẫn bị truy cứu, nhưng luật tách thành tội riêng với khung hình phạt thấp hơn Điều 123.

Tội danh Khi nào Khung hình phạt chính
Giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng hoặc vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội (Điều 126) Chống trả rõ ràng quá mức cần thiết, không tương xứng với mức nguy hiểm của hành vi xâm hại Cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc tù từ 03 tháng đến 02 năm; giết 02 người trở lên thì tù từ 02 đến 05 năm
Giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh (Điều 125) Bị kích động mạnh do hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân đối với mình hoặc người thân thích Tù từ 06 tháng đến 03 năm; từ 02 người trở lên thì tù từ 03 đến 07 năm
Vô ý làm chết người (Điều 128) Không có ý định giết nhưng do thiếu cẩn trọng, hoặc tự tin sẽ không xảy ra mà vẫn xảy ra Cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc tù từ 01 đến 05 năm; làm chết 02 người trở lên thì tù từ 03 đến 10 năm
Vô ý làm chết người do vi phạm quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính (Điều 129) Chết người do vi phạm quy tắc nghề nghiệp, quy tắc hành chính mà người đó có nghĩa vụ tuân thủ Xử lý theo Điều 129 Bộ luật Hình sự

Cần phân biệt hai tình huống hay bị nhầm. Một là giết người trong trạng thái bị kích động mạnh: đây không phải trường hợp loại trừ trách nhiệm, vì người phạm tội chỉ bị hạn chế chứ chưa mất khả năng nhận thức và điều khiển hành vi. Hai là cố ý gây thương tích mà nạn nhân chết (Điều 134): người phạm tội chỉ có ý định gây thương tích, không có ý định giết, nên bị xử theo tội gây thương tích với tình tiết hậu quả chết người.

Lưu ý: Trong các vụ việc này, việc xác định ý thức chủ quan (cố ý hay vô ý, có ý định giết hay không) là nội dung mà cơ quan điều tra, viện kiểm sát và tòa án đánh giá dựa trên toàn bộ chứng cứ, như công cụ gây án, vị trí tác động, diễn biến, thái độ sau đó. Người trong cuộc không thể tự quyết định hành vi của mình thuộc loại nào.

Phạm tội nhưng khi nào không phải ngồi tù?

Có ba hướng chính, đều gắn với tội ít nghiêm trọng, không phải giết người ở khung thông thường:

  • Hình phạt không phải tù giam: các Điều 126 và 128 cho phép tòa tuyên cải tạo không giam giữ. Người bị kết án vẫn sống ở cộng đồng nhưng chịu sự giám sát, bị khấu trừ một phần thu nhập theo bản án.
  • Án treo: tòa có thể cho hưởng án treo nếu hình phạt tù không quá 03 năm và đáp ứng điều kiện luật định, như nhân thân tốt, có tình tiết giảm nhẹ, không cần thiết cách ly khỏi xã hội. Tội giết người khung cơ bản có mức thấp nhất 07 năm tù nên về nguyên tắc không đủ điều kiện, trừ khi được áp dụng quy định giảm nhẹ đặc biệt.
  • Miễn trách nhiệm hình sự hoặc miễn hình phạt: áp dụng trong những trường hợp luật quy định cụ thể, ví dụ khi có sự thay đổi chính sách pháp luật hoặc người phạm tội lập công đặc biệt. Đây là quyết định của cơ quan có thẩm quyền, không phải quyền của người phạm tội.

Đối với tội giết người ở khung có thể bị tử hình, pháp luật không áp dụng thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự. Dù đã nhiều năm kể từ khi xảy ra vụ việc, người phạm tội vẫn có thể bị khởi tố.

Cảnh báo: Không có cách nào “dàn xếp” để tránh trách nhiệm hình sự đối với tội giết người. Việc bồi thường, được gia đình nạn nhân bãi nại chỉ là tình tiết giảm nhẹ khi quyết định hình phạt, không làm chấm dứt việc truy cứu. Che giấu tội phạm, tiêu hủy chứng cứ hoặc khai báo gian dối còn có thể bị xử lý thêm về các tội danh khác.

Ba tình huống thực tế

Tình huống 1. Anh A đi đường bị hai người chặn lại, dùng dao uy hiếp cướp tài sản. A giằng được dao, đẩy mạnh khiến một người ngã đập đầu xuống đường và tử vong. Nếu cơ quan tiến hành tố tụng xác định A đang bị tấn công, hành vi chống trả cần thiết và tương xứng, đây có thể là phòng vệ chính đáng, A không phải chịu trách nhiệm hình sự.

Tình huống 2. Anh B bị một người đang say rượu xô xát, đã bỏ chạy ra xa. B đuổi theo, dùng gậy đánh vào đầu khiến người đó tử vong. Lúc này sự tấn công đã chấm dứt, nên không còn quyền phòng vệ. B có thể bị truy cứu về tội giết người hoặc cố ý gây thương tích dẫn đến chết người, tùy vào ý thức chủ quan được chứng minh.

Tình huống 3. Chị C lái xe đúng tốc độ, đúng làn thì một người say rượu bất ngờ lao ra giữa đường, không thể tránh kịp. Nếu kết luận điều tra xác định C không vi phạm quy tắc giao thông và không thể thấy trước tình huống thì C có thể được xem xét theo hướng sự kiện bất ngờ. Ngược lại, nếu C chạy quá tốc độ hoặc vi phạm quy tắc an toàn thì vẫn có thể bị xử lý về tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ.

Trách nhiệm dân sự và việc cần làm khi xảy ra sự việc

Ngay cả khi không bị truy cứu trách nhiệm hình sự, người gây ra cái chết có thể vẫn phải bồi thường dân sự, trừ trường hợp thiệt hại phát sinh do sự kiện bất khả kháng hoặc hoàn toàn do lỗi của người bị thiệt hại theo Bộ luật Dân sự 2015. Khoản bồi thường khi tính mạng bị xâm phạm gồm chi phí cứu chữa trước khi chết, chi phí mai táng, tiền cấp dưỡng cho người mà nạn nhân có nghĩa vụ nuôi dưỡng và khoản bù đắp tổn thất tinh thần cho người thân. Mức bù đắp tổn thất tinh thần do các bên thỏa thuận, nếu không thỏa thuận được thì tối đa 100 lần mức lương cơ sở theo quy định của Bộ luật Dân sự.

Khi chẳng may làm chết người, bạn nên:

  1. Bước 1: Cứu giúp nạn nhân ngay nếu còn khả năng, gọi cấp cứu. Bỏ mặc người đang nguy hiểm đến tính mạng có thể bị xử lý riêng về tội không cứu giúp người đang ở trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng.
  2. Bước 2: Báo ngay cho Công an cấp xã hoặc cơ quan công an gần nhất và giữ nguyên hiện trường, không tiêu hủy chứng cứ.
  3. Bước 3: Khai báo trung thực. Tự thú, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tự nguyện bồi thường là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo Điều 51 Bộ luật Hình sự.
  4. Bước 4: Nếu cho rằng mình phòng vệ chính đáng, hãy nêu rõ diễn biến, người làm chứng, camera, vết thương trên người… để cơ quan tiến hành tố tụng xem xét. Bạn có quyền nhờ luật sư bào chữa ngay từ khi bị bắt, tạm giữ hoặc khởi tố.

Muốn tự vệ mà không vi phạm pháp luật, bạn cũng cần biết giới hạn khi mang theo công cụ bảo vệ. Hai bài mang vũ khí nào để tự vệ mà không vi phạm pháp luật và bình xịt hơi cay tự vệ có bị cấm không giải thích rõ phần này.

Tóm lại, quyền sống là quyền được pháp luật bảo vệ tuyệt đối, nên không có “cách” nào để làm chết người mà không phải chịu trách nhiệm. Chỉ khi hành vi thật sự là phòng vệ chính đáng, sự kiện bất ngờ hoặc thuộc các trường hợp luật loại trừ, người làm chết người mới không bị truy cứu hình sự. Những trường hợp còn lại, mức xử lý phụ thuộc vào lỗi cố ý hay vô ý và các tình tiết cụ thể của vụ việc.

Câu hỏi thường gặp

Giết người bị phạt bao nhiêu năm tù?

Theo Điều 123 Bộ luật Hình sự, khung cơ bản là tù từ 07 năm đến 15 năm. Nếu có tình tiết định khung tăng nặng như giết nhiều người, có tính chất côn đồ, thuê giết người, mức phạt là 12–20 năm, chung thân hoặc tử hình. Chuẩn bị giết người bị phạt tù từ 01 đến 05 năm.

Làm chết người do phòng vệ chính đáng có bị đi tù không?

Không, nếu hành vi đáp ứng đủ điều kiện phòng vệ chính đáng thì không phải là tội phạm. Nếu chống trả rõ ràng quá mức cần thiết thì bị coi là vượt quá giới hạn phòng vệ, phải chịu trách nhiệm hình sự theo Điều 126 nhưng với khung hình phạt thấp.

Lỡ tay làm chết người có phải đi tù không?

Tùy trường hợp. Nếu không thể thấy trước hậu quả, đó là sự kiện bất ngờ và không bị truy cứu. Nếu có lỗi vô ý, người đó có thể bị xử theo Điều 128: cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc tù từ 01 đến 05 năm.

Người dưới 16 tuổi giết người có bị xử lý không?

Người dưới 14 tuổi không phải chịu trách nhiệm hình sự. Người từ đủ 14 đến dưới 16 tuổi vẫn bị truy cứu về tội giết người, vì đây là tội đặc biệt nghiêm trọng, nhưng được áp dụng chính sách xử lý riêng đối với người dưới 18 tuổi.

Người bị bệnh tâm thần giết người có bị xử lý hình sự không?

Nếu tại thời điểm phạm tội người đó mất khả năng nhận thức hoặc điều khiển hành vi do bệnh tâm thần, được giám định xác nhận, thì không phải chịu trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên, họ có thể bị áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh.

Giết người sau nhiều năm có còn bị truy cứu không?

Có thể. Pháp luật không áp dụng thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự đối với các tội có thể bị phạt tử hình, trong đó có tội giết người ở khung tăng nặng.

Lưu ý: Nội dung bài viết mang tính chất tham khảo, được biên soạn theo quy định pháp luật tại thời điểm cập nhật. Với vụ việc cụ thể, bạn nên liên hệ cơ quan có thẩm quyền hoặc luật sư để được hướng dẫn chính xác. Xem miễn trừ trách nhiệm.

Ban biên tập Luật Sư X

Có thể bạn quan tâm

Xem tất cả →