Nam và nữ chung sống như vợ chồng có được pháp luật thừa nhận?

Tháng Năm 6, 2021
sống chung như vợ chồng không đăng ký kết hôn
461
Views

Nam và nữ chung sống như vợ chồng không kết hôn có được pháp luật Việt Nam thừa nhận không?

Nam và nữ chung sống như vợ chồng không kết hôn có được pháp luật Việt Nam thừa nhận không? Bài viết dưới đây của Luật sư X sẽ giải đáp thắc mắc đó.

Căn cứ pháp lý:

Luật hôn nhân và gia đình 2014.

Bộ luật dân sự 2015

Thông tư liên tịch 01/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP.

Sống chung không kết hôn sẽ không có giá trị pháp lý?

Theo quy định tại khoản b Điều 2 Thông tư liên tịch 01/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP; được coi là nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:

Có tổ chức lễ cưới khi về chung sống với nhau;

  • Việc họ về chung sống với nhau được gia đình (một bên hoặc cả hai bên) chấp nhận;
  • Việc họ về chung sống với nhau được người khác hay tổ chức chứng kiến;
  • Họ thực sự có chung sống với nhau, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau xây dựng gia đình.

Đồng thời; theo quy định tại Điều 131 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 (viết tắt là Luật HN&GĐ):

Điều 131 Luật hôn nhân và gia đình 2014.

Quan hệ hôn nhân được xác lập trước ngày Luật hôn nhân và gia đình 2014 có hiệu lực thì áp dụng pháp luật về hôn nhân và gia đình tại thời điểm xác lập để giải quyết

Theo đó,; căn cứ quy định của pháp luật, việc xác định giá trị pháp lý khi nam; nữ chung sống với nhau như vợ chồng theo 03 thời điểm như sau:

Nam nữ chung sống như vợ chồng không kết hôn trước ngày 03/01/1987:

Theo khoản 2 Điều 44 Nghị định số 23/2015/NĐ-CP; quan hệ hôn nhân của trường hợp này; được công nhận kể từ ngày các bên xác lập quan hệ chung sống với nhau như vợ chồng. Khi đó, nam nữ được khuyến khích và tạo điều kiện đăng ký kết hôn.

Nam và nữ chung sống như vợ chồng không kết hôn từ ngày 03/01/1987 đến trước ngày 01/01/2001

Nam nữ sống chung với nhau trong trường hợp này mà đủ điều kiện kết hôn; nhưng chưa đăng ký kết hôn; đang chung sống với nhau như vợ chồng; thì họ phải có nghĩa vụ đăng ký kết hôn kể từ ngày 01/01/2001 đến hết ngày 01/01/2003 (theo điểm b; khoản 3 Nghị quyết số 35 của Quốc hội).

Sau ngày 01/01/2003 nếu nam nữ chưa đăng ký kết hôn thì không được công nhận là vợ chồng.

Chung sống như vợ chồng không đăng ký kết hôn sau ngày 01/01/2003:

Trong thời gian này; bắt buộc nam; nữ phải đăng ký kết hôn tại cơ quan có thẩm quyền thì mới có giá trị pháp lý. (Theo quy định tại khoản 1 ; Điều 11 Luật Hôn nhân và gia đình 2000 và Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình 2014 ).

Hiện nay; quan hệ hôn nhân của nam nữ chỉ được pháp luật công nhận khi đáp ứng điều kiện về đăng ký kết hôn; bắt buộc phải thực hiện tại cơ quan có thẩm quyền tuân theo quy định của Luật HN&GĐ 2014 về:

  • Điều kiện đăng ký kết hôn: Nam từ đủ 20 tuổi trở lên, nữ từ đủ 18 tuổi trở lên; do nam nữ tự nguyện quyết định; không bị mất năng lực hành vi dân sự; không thuộc trường hợp bị cấm kết hôn… theo Điều 8 Luật HN&GĐ.
  • Thủ tục đăng ký kết hôn; Hai bên nam nữ muốn đăng ký kết hôn thì phải đáp ứng điều kiện nêu trên; chuẩn bị đầy đủ giấy tờ và đến cơ quan có thẩm quyền thực hiện.

Các hành vi pháp luật cấm

Việc đang có vợ; có chồng mà chung sống như vợ chồng với người khác hoặc chưa có vợ; chưa có chồng mà chung sống như vợ chồng với người đang có chồng; có vợ là hành vi bị pháp luật nghiêm cấm (căn cứ điểm c khoản 2 Điều 5 Luật HN&GĐ 2014).

Theo đó; tại Điều 48 Nghị định 110 năm 2013 sửa đổi bởi khoản 35 Điều 1 Nghị định 67 năm 2015; sẽ phạt tiền từ 01 – 03 triệu đồng với các hành vi sau đây:

  • Đang có vợ hoặc đang có chồng mà chung sống như vợ chồng với người khác;
  • Chưa có vợ hoặc chưa có chồng; mà chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng hoặc đang có vợ;
  • Chung sống như vợ chồng giữa những người có họ trong phạm vi ba đời;
  • Chung sống như vợ chồng giữa cha mẹ nuôi với con nuôi; giữa người đã từng là cha; mẹ nuôi với con nuôi, bố chồng với con dâu,; mẹ vợ với con rể, bố dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng.

Tuy nhiên; từ 01/9/2020 khi Nghị định số 82/2020/NĐ-CP chính thức có hiệu lực; thì mức phạt các hành vi này đã tăng lên từ 03 – 05 triệu đồng (theo khoản 1 Điều 59 ; Nghị định 82).

Riêng việc chung sống như vợ chồng với người có cùng dòng máu về trực hệ ; thì sẽ bị phạt tiền từ 10 – 20 triệu đồng.

Xem thêm: Quyền nuôi con khi không đăng ký kết hôn sẽ thuộc về ai.

Câu hỏi thường gặp

Bố mẹ không đăng ký kết hôn, con sinh ra có được làm giấy khai sinh không?

Về cơ bản, Bố mẹ không đăng ký kết hôn, con sinh ra có được làm giấy khai sinh (Trong thời hạn 60 ngày kể từ ngày sinh con).
Như vậy nếu hai bạn chưa đăng ký kết hôn mà có con thì yên tâm là vẫn khai sinh được nhé.

Hành vi bị cấm trong hôn nhân là gì?

Đang có vợ hoặc đang có chồng mà chung sống như vợ chồng với người khác;
Chưa có vợ hoặc chưa có chồng; mà chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng hoặc đang có vợ;
Chung sống như vợ chồng giữa những người có họ trong phạm vi ba đời;
Chung sống như vợ chồng giữa cha mẹ nuôi với con nuôi; giữa người đã từng là cha; mẹ nuôi với con nuôi, bố chồng với con dâu,; mẹ vợ với con rể, bố dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng.

Nam nữ sống chung như vợ chồng sau đó mới đi đăng ký kết hôn có được không?

Nam nữ sống chung với nhau trong trường hợp này mà đủ điều kiện kết hôn; nhưng chưa đăng ký kết hôn; đang chung sống với nhau như vợ chồng; thì họ phải có nghĩa vụ đăng ký kết hôn kể từ ngày 01/01/2001 đến hết ngày 01/01/2003 (theo điểm b; khoản 3 Nghị quyết số 35 của Quốc hội).
Sau ngày 01/01/2003 nếu nam nữ chưa đăng ký kết hôn thì không được công nhận là vợ chồng.

Đánh giá bài viết

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.